Thứ Sáu, ngày 14 tháng 8 năm 2020        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/05/2011  
  Những ngày ở "Địa ngục trần gian"  
  Trích hồi ký của ông Đoàn Minh Định (Sáu Câu)
Hồ Nhựt Trung ghi
 
 
 

 

 

Tháng 10/1948 chúng đày tôi cùng 75 đồng chí khác từ khám lớn Sài Gòn ra Côn Đảo. Có hai đồng chí bị án tử hình cũng bị đày trong chuyến này. Trước khi đưa chúng tôi đi đày, chúng cho anh Trần Hoài Nam, Tổng đại diện Liên đoàn tù nhân Gài Gòn lên gặp để trao quà vật của anh em bạn tù quyên góp tặng chúng tôi và gởi ra cho anh em tù ở Côn Đảo. Anh Trần Hoài Nam đã động viên, dặn dò và gửi một số thư từ chuyển nội dung chủ trương từ đất liền ra cho đảo. Những thư từ đều được viết dạng “bạch chỉ”. Trước khi lên tàu chúng tôi ca hát liên tục để củng cố tinh thần. Anh em bạn tù cũng hát theo để tiễn chúng tôi làm dậy cả khám lớn suốt buổi sáng hôm đó. Chuyến đày này chúng tôi có thành lập Ban Hành trình do anh em bầu ra. Tôi được bầu làm trật tự viên trong Ban Hành trình này.

            Tàu chạy liên tục suốt một ngày. Khoảng 4 giờ sáng hôm sau thì ra tới Côn Đảo. Tàu vừa cập bến, chúng tôi thấy bọn lính gác - dan (Gardien - giám thị người Âu) đã đứng đầy hai bên cầu tàu. Súng ống, roi gậy, xiềng ba, xiềng đôi chúng bày ra la liệt tại đầu cầu. Chúng sẵn sàng tấn công vào chúng tôi để uy hiếp tinh thần, vì trước chuyến đi này tại khám lớn Sài Gòn Liên đoàn tù nhân đã phát động cuộc đấu tranh tuyệt thực ba ngày với nhiều yêu sách. Trong đó có yêu sách chống tử hình, chống bắt tù nhân làm việc khổ sai…và chúng tôi là nhóm tù đầu tiên tổ chức hình thức đấu tranh này.

Khi vừa lên đầu cầu tàu, chúng bắt chúng tôi ngồi và phải cuối đầu nghe tên xếp chánh nói chuyện. Chúng tôi không một ai cúi đầu, tên xếp chánh liền ra lệnh đàn áp. Bọn lính xáp vào chúng tôi dùng roi, gậy, báng súng đánh chúng tôi tới tấp. Anh em có người bể đầu, người thì lát mặt…Ban hành trình phát lệnh phản đối: “Đả đảo đàn áp” làm dậy cả bến tàu. Đi chung chúng tôi có ông già tên Lịch, người theo đạo thiên chúa, bị còng ngồi trước mặt tôi không la phản đối mà chỉ ngồi làm dấu thánh giá nên bị chúng đánh bể đầu nằm sãi ra, máu me lênh láng…Chúng càng đánh chúng tôi càng la “đả đảo đàn áp”. Khoảng 15 phút sau, chúng thôi đánh và bắt xếp hàng trật tự lại. Tên xếp chánh Le Bon ra đứng nói chuyện có phiên dịch. Tên này nói đại để: “Đây là Côn Lôn chớ không phải khám lớn Sài Gòn các người biết chưa, chưa biết rồi sẽ biết, ở đây các người không được đấu tranh, không được kiến nghị gì cả…khi báo chí và gia đình các người hay tin thì các người đã ra nghĩa địa Hàng Dương rồi”. Tên này nói tù nhân như chúng tôi chỉ có quyền làm đơn xin từng người chớ không được làm đơn tập thể…Chúng hăm he, dọa dẫm một lúc rồi cho vào khám. Chúng đưa chúng tôi vào Banh 2 (Bagne 2 - phòng giam tù chính trị) có lính gác hai bên đường không cho ai đến gần chúng tôi. Các đồng chí bị đánh có người đi không nổi được anh em dìu đi. Trước khi vào khám, chúng bắt chúng tôi tuột cả quần áo rồi “hả họng và chổng khu” để chúng khám xét. Sau đó, chỉ cho mỗi người một áo lót, một quần xì - líp và một bộ quần áo tù.

            Liên đoàn tù nhân ở Côn Đảo tuy chưa được nhà tù thừa nhận, nhưng tổ chức cũng chặt chẻ. Bữa cơm đầu tiên chúng tôi được Liên đoàn chỉ đạo nhà bếp chọn gạo không bị sâu, khô chưa bị mục cho chúng tôi ăn một bữa và gởi lời thăm hỏi, động viên.

            Khi đã về khám, tôi nghĩ, nếu không vượt ngục được chắc chắn không thể sống được vì trước trận đàn áp tại bến tàu, khi chiếc xà - lúp chạy ra rước chúng tôi vào bến. Vì sóng biển quá lớn, xà - lúp không cập vào mạn tàu được, chúng ra lệnh cho một đồng chí tù phải nhảy xuống ôm dây đỏi lội vào tàu, đồng chí này còn chần chừ vì cá mập lội nhởn nhơ dưới nước, tên xếp Mai, một người miền Bắc lai Tây, đã chửi: “Địt mẹ mày…ông bắn vỡ sọ !”. Nói rồi y liền rút súng ra bắn, nước văng tung tóe sát bên đồng chí tù…Tôi thấy không có chút gì là chế độ tù chính trị như ở khám lớn Sài Gòn.

Sáng ra, chúng thông báo ai bị bệnh thì đi khám bệnh. Tôi, Viễn, ông già Lịch và bốn anh em nữa khai bệnh vì bị đánh và say sóng nên bị sốt và đau đầu. Cho đi khám và cho thuốc xong, chúng dẫn luôn chúng tôi lại bàn giấy tên xếp chánh đóng xiềng. Mỗi người 15 ngày xiềng chiếc. Chúng tôi phản đối nhưng chúng vẫn cứ đóng, vì cho rằng chúng tôi bệnh ít mà cũng khai bệnh. Chúng tôi đeo xiềng kéo lổn rổn về khám, anh em ai nấy đều ngạc nhiên vì thấy lạ và xúm lại hỏi thăm…

Chúng tôi đeo xiềng như một con thú dữ, rất căm tức nhưng cũng tức cười cho chế độ tù của thực dân Pháp ở Côn Đảo. Trong tuần, chúng phân công tôi và Viễn về sở Củi, một trong các sở chuyên môn ở Côn Đảo. Nhưng vì còn đeo xiềng nên chúng chỉ bắt đi làm đường. Đến khi tháo xiềng chúng mới phân lên rừng đốn củi. Về sở Củi, tôi gặp nhiều anh em quen nhau từ khám lớn Sài Gòn nên việc tổ chức vượt ngục thuận tiện, dễ dàng hơn, nhất là thời điểm này mùa gió chướng cũng bắt đầu. Các tờ báo bí mật của Liên đoàn tù nhân Côn Đảo như: tờ Tiếng Tù, Phá Ngục, Lửa Sống, Nghiên cứu Chủ nghĩa Marx…nhất là tờ Đón Gió thúc giục chúng tôi vượt ngục trở về đất liền tiếp tục chiến đấu.

            Sở Củi lúc này chúng dời về khu Lò Vôi. Anh em đi đốn củi phải lên, xuống dốc Trâu Té. Vác củi từ trên núi xuống nhiều người đã bị trợt té mang bệnh mà chiều về không đủ củi theo định mức nạp cho chúng sẽ bị đánh đập rất dã man. Hầu hết anh em chúng tôi ai cũng đều bị đánh. Nhiều anh em gọi mỉa mai rằng chế độ cộng hòa của chúng đối với tù chính trị là “nhảy đầm”. Tôi và một số anh em mới bị đày ra đảo chưa quen đốn củi nên hầu như chiều nào cũng bị “nhảy đầm”.

            Các cuộc đấu tranh đòi dời sở Củi về chỗ cũ cũng thường xảy ra. Sự mâu thuẩn giữa tù nhân và nhà tù khá gay gắt, nhất là ở sở Củi. Chúng tôi trong số tù nhân mới bị đày ra thấy không thể sống ở đảo để chết dần chết mòn được nữa. Phải vượt ngục thôi. Nếu về được đất liền để tiếp tục chiến đấu thì càng tốt. Chẳng may bị rả bè, chìm ghe thì gởi thây xuống biển làm mồi cho lũ cá mập thấy cũng còn sướng hơn chết mòn ở đảo. Tôi cùng với Viễn, Ấn và một số anh em được anh Mười Tôn rủ vượt ngục. Vì mới ra chưa có điều kiện mua vải, mua sơn để làm ghe nên chúng tôi bàn tính với nhau đốn cây kết lại làm bè.

            Như thường lệ, sáng 7/11/1948, chúng tôi vác búa lên núi nhưng không đốn củi mà cùng nhau bàn bạc kế hoạch vượt ngục. Anh Mười Tôn là người ra đảo trước nên thông thạo đường đi nước bước trên đảo đã chỉ huy, hướng dẫn anh em chúng tôi tìm nơi vắng vẻ và có cây đốn làm bè. Chúng tôi chia nhau đi bức dây mây để sẵn. Đến trưa, chúng tôi xuống bãi củi ăn cơm. Nhưng sau khi lấy cơm, chúng tôi không ăn mà gói lại và vác búa trở lên rừng đi về hướng bãi Cỏ Ống tìm đốn tre và cây Bún rừng, loại cây này nổi trên mặt nước. Chúng tôi đốn sẵn và chờ đến tối vác xuống bãi cát gần đó kết bè. Dự kiến khi chúng tôi làm bè xong là nước vừa ròng, nhưng đường núi vừa dốc, vừa tối và rất khó đi nên khi làm bè xong trời đã gần sáng mà nước thì đã lớn. Khi chúng tôi vừa đưa bè ra liền gặp sóng biển đánh quá mạnh làm bè đứt dây, tan rã, không kết lại kịp. Sau đó, chúng tôi vác số cây còn lại đem đi giấu và xóa dấu vết chờ hôm sau tiếp tục làm lại.

Nhưng bữa đó bọn rờ - xẹc bủa vây lùng kiếm tốp của anh Mười Tôn buổi trưa lẻn đi đào khoai bị lộ, chúng bắt được và đánh anh Mười Tôn chết trên núi. Số anh em khác chúng đem về nhốt hầm (xà lim).

            Anh Mười Tôn chết chúng tôi như rắn mất đầu. Còn lại tốp của tôi ba người nhưng cũng quyết tâm tiếp tục đi, không trở về cho chúng bắt. Viễn, tôi và Ấn bàn và thống nhất với nhau quay trở lại nhà thương kiếm cơm, gạo và búa, vì búa đã bị sóng đánh rã bè mất dưới biển. Ở khu nhà bếp của nhà thương có anh Nhọn thân với tôi từ khám lớn Sài Gòn nên có khả năng giải quyết được. Khi chúng tôi lần ra đến đường đi thì gặp đám tù chiến phạm Nhật Bản đang từ bãi Cỏ Ống về, lúc này khoảng 10 giờ đêm. Anh Viễn biết nói tiếng Anh nên ra nói nói chuyện với đám tù này…rồi chúng tôi tháp tùng xuống núi. Bọn rờ - xẹc đa số là lính Miên bị tù chúng đưa ra làm. Khi gặp đám tù chiến phạm Nhật chúng chẳng hỏi han gì. Khi xuống đến lao 3, bọn Nhật rẻ về trại, chúng tôi theo đường Hàng Dương mò về nhà thương. Khi đi đến mả 13 chiến sĩ bị bắn chết thì chúng tôi bị bọn rờ - xẹc phục kích bắt, giải về. Chúng tra tấn chúng tôi một lúc rồi đưa nhốt hầm và đeo xiềng một tháng.

            Anh Mười Tôn chết do bọn chúng đánh, nhưng bọn chúng cho rằng anh té núi chết. Cái chết của anh Mười Tôn làm chấn động toàn đảo. Anh em vô cùng căm tức, phẫn nộ. Liên đoàn tù nhân liền phát động một cuộc đấu tranh toàn đảo. Sở Củi là ngòi pháo. Mục tiêu của cuộc đấu tranh lần này là chống hành động đánh giết tù nhân vô cớ; đòi cải thiện đời sống tù nhân; thực hiện chế độ tù chính trị…và chọn ngày 11/11/1948 toàn đảo tuyệt thực, bãi công, đưa yêu sách. Tất cả thư ký, bồi bếp đều hưởng ứng. Ngày 11/11/1048, các cơ quan công sở trên đảo hầu như đều bị tê liệt, trừ bọn lính và bọn gác - dan. Cuộc đấu tranh này còn là đòn phủ đầu tên quan tư La Faut mới đổi ra làm chúa đảo. Bọn cai tù không đàn áp bằng vũ lực mà chúng nhốt và bỏ đói anh em ta một ngày. Cuối cùng, chúng cũng nhượng bộ dù không thừa nhận Tổng đại diện Liên đoàn tù nhân. Sau đó, chúng dời sở Củi về khu An Hải. Và khô mục, tương thúi, gạo sâu…những chế độ thức ăn dành cho tù nhân chúng tôi trước đây cũng được bãi bỏ. (còn tiếp)

 

                                                                                                                        H.N.T

 
     
  Hồ Nhựt Trung ( Báo Văn nghệ Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |