Thứ Năm, ngày 28 tháng 5 năm 2020        
     
 
   Hồi ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  28/12/2018  
  Hồi kí KHI TỔ QUỐC GỌI (tiếp theo) Nguyễn Long Trảo  
  Tôi nhớ trước chợ Cao Lãnh là bến tàu thủy đi tới Niếc Lương mà người dân ở đây quen gọi là “Hố Lương” của Campuchia. Không biết trong chuyến đi người ta chở những gì, nhưng khi về thì có những món chủ lực như: đường thốt nốt, khô cá tra, cá bống tượng... Tôi thích đứng xem người ta chuyển các “sắc” đường thốt nốt từ dưới tàu lên, người ở dưới quăng lên, người ở trên đón chụp từng đôi một, không một lần để rớt xuống sông. Tôi đã học được cách chở cá bống tượng từ Campuchia về, không phải đựng trong lu trong hũ, mà toàn là cho nó nằm sắp lớp trong các sề bên trên có rải lá chuối khô xé nhỏ, thỉnh thoảng rưới lên một ít nước là đủ, còn nếu rọng ngập trong nước thì dọc đường nó sẽ bị “xóc nước” chết hết.  
 
 



            Mỗi khi tàu sắp rời chợ Cao Lãnh người ta thường nghe tiếng còi tàu “tun tun” để chú Bảy “quay cầu” kịp chạy ra quay cao đoạn giữa của cây cầu Đúc cho tàu chạy qua. Mà cũng thật không ngờ là chú “quay cầu” sau này đã trở thành ông sui của cha mẹ tôi, là ông già vợ của anh Ba Thanh Nha, khi anh đã gặp chị và hai người cùng làm lễ thành hôn trong chiến khu Đồng Tháp Mười với bữa tiệc cưới chỉ là một nồi chè đậu xanh.  

            Sau khi lớn lên tôi đã đi nhiều nơi trên đất nước nhưng hiếm thấy cái chợ nào vừa mang nhiều sắc thái nông thôn vừa có dáng dấp thành thị, lại sở hữu cây cầu Đúc quay với hình dáng cũng rất đặc biệt như cầu Đúc - Cao Lãnh. Nó càng đặc biệt ở chỗ gắn liền với sự tích xả thân cứu người hiếm thấy của một bậc hiền nhân mà nó vinh dự được mang tên: “Câu Lãnh” - sau này người ta đã gọi trại đi là “Cao Lãnh”. Hiện giờ thì thay vào cây cầu Đúc quay là một cây cầu Đúc kiên cố hiện đại, thay vào cái chợ Cao Lãnh cũ kỹ khi xưa cũng là một ngôi chợ được xây dựng lại khang trang bề thế, hình ảnh của cây cầu Đúc quay và cái sắc thái nửa quê mùa nửa thành thị của cái chợ Cao Lãnh khi xưa cũng dần đi vào lãng quên trong tâm thức của những thị dân Cao Lãnh. Cho dù là thế, nhưng mọi người vẫn mãi mãi không bao giờ quên công đức của ông bà Câu Lãnh, những người từng đem sinh mạng của mình tế sống trước trời đất, nguyện được chết thay để chúng dân thoát khỏi cơn đại dịch đang từng giờ, từng phút cướp đi sinh mạng của biết bao dân lành tội nghiệp. Cuối cùng người dân thì được cứu, còn hai ông bà thì được chết thay theo lời nguyện, cho nên hằng năm cứ đến ngày mùng chín và mùng mười tháng sáu âm lịch là ngày giỗ của hai Cụ thì khó mà đếm hết số người trong và ngoài thành phố Cao Lãnh đã đưa nhau đến “Miếu Ông Chủ chợ” thành kính thắp những cây nến, những nén nhang bày tỏ lòng tri ân của hậu thế.

                                   3 -  NƯƠNG TỰA ÔNG BÀ NỘI                                           

            Suốt một thời gia dài cả gia đình chúng tôi tá túc trong nhà ông bà nội. Lúc này tuổi của ông bà đều gần bảy mươi. Ông nội bị mù không biết từ bao giờ, đầu bị sói, hằng ngày chỉ đi quanh quẩn trong nhà. Nghe mấy chị kể lại thì ông nội rất sáng dạ, tuy mù nhưng cũng đã từng dạy toán cho anh Ba Thanh Nha. Ông mất ở tuổi bảy mươi mốt. Khi ông mất, bà nội đem một bộ ván gõ ra xẻ làm quan tài. Ông nội được đưa đi chôn cất trên phần đất nhà bên rạch Cái Tôm, đưa đám bằng ghe và tôi cũng được đi theo. Vì là nhà theo đạo Tin Lành nên dọc đường có hát một bài thánh ca mà tôi còn nhớ một đoạn: “Dòng bình tịnh kia Chúa đưa mình tận nơi Người, chăn chiên hỡi Chúa tôi cậy Ngài...”. Lúc đó nghe khúc ca sao mà êm đềm, khiến tôi có cảm giác như nó đang dìu linh hồn tôi cùng đi theo tiễn đưa ông nội trở về bên Chúa. Thiêng liêng là thế nhưng cũng vì một câu nói dại dột mà tôi bị bà nội mắng cho một trận nhớ đời. Số là trong đám tang, bà nội đã làm thịt một con heo to đem quay để đãi khách do đó mà tôi cũng được dự phần. Vì ngày thường hiếm có dịp được ăn thịt heo quay nên sau khi ăn tôi đã thật lòng phát một câu đầy mãn nguyện: “Ông nội chết, ăn thịt heo quay đã đời!”. Đâu ngờ bà nội lại nghe, giận quá chừng giận, Bà nói lẫy: “Ừ, phải mà, mày cũng chờ mai mốt tao chết để mà ăn thịt heo quay cho đã!”.

            Tuy ở nhà có đủ ông bà nội, nhưng bà là chủ gia đình, ông bị mù không làm được gì, đất vườn nhà cửa đều do một tay bà nội tạo dựng. Bà rất tự hào về công lao và sự nghiệp của mình, thường nhắc đi nhắc lại câu: “Không có tao thì cả nhà tụi bay chỉ có nước ra đường mà ở”. Mà bà nói cũng có cái lý của bà, bởi vì cả gia đình chúng tôi cùng tá túc trong nhà bà, và tất cả anh em chúng tôi đều lớn lên từ đó. Bà bắt đầu sự nghiệp bằng nghề bán dầu chai và chai cục, loại dùng để trét xuồng ghe, sau đó mở lò nhuộm vải, thuê nhiều nhân công mà cũng không bao giờ làm hết hàng, từ đó mà khấm khá cất lên một ngôi nhà ngói ba gian vào loại nhất nhì trong xóm cho nên được liệt vào hạng nhà giàu.   

            Vì tất cả chúng tôi cùng ở chung với bà nên mặc nhiên được coi là con cái nhà giàu, hơn nữa ở trong nhà còn có bác Ba Vẹn là một điền chủ cỡ bự trong huyện nên điều đó càng được khẳng định, chớ nào có ai biết rằng gia đình chúng tôi chỉ có hai bàn tay trắng! nhiều khi chỉ có duy nhất cái quần cụt và cái áo ngắn dính thân, muốn giặt thì nhảy xuống sông cởi truồng ra giặt, xong lại mặc quần ướt lên bờ. Tuy nhiên ở cái xã hội thời bấy giờ, cái giàu “ảo” đó ít nhiều cũng có cái lợi đối với gia đình chúng tôi: cha mẹ dễ dàng vay mượn vốn liếng làm ăn, còn đối với hàng xóm láng giềng thì chí ít chúng tôi cũng không bị người ta coi rẻ. Ngay trong trường học, các thầy cô giáo cũng biết ông bà nội và tỏ ra nể trọng nên ít nhiều chúng tôi cũng được hưởng lây. Cũng từ đó mà vô hình trung đã tạo cho chúng tôi một nếp nghĩ và thường được nghe nhắc đi nhắc lại là mình thuộc một gia đình đàng hoàng, phải ráng mà giữ. Ví dụ như trong chuyện học hành, dù khó khăn cực khổ đến mấy thì cha mẹ cũng không hề bắt chúng tôi phải bỏ học để phụ lo cho gia đình, mà lúc nào cũng khuyến khích và nhắc nhở chúng tôi phải cố gắng học hành đến nơi đến chốn để trở thành những con người “đàng hoàng”. Thế nên hai chữ “đàng hoàng” đó nó cứ mặc nhiên ngấm dần qua từng năm tháng để rồi khắc sâu trong tiềm thức và điều đó đã không ít lần giúp tôi tránh khỏi sai lầm, sa ngã.

            Vì có hai người con cùng ở chung một nhà nên bà nội thường đem ba tôi và bác Ba ra so sánh trước mặt chúng tôi, cho rằng cùng là con nhưng đứa giàu thì ngày càng giàu thêm, đứa nghèo thì nghèo hoài, cất đầu không lên. Bà cho rằng vì bác Ba tuổi Dậu, là tuổi con gà, mà con gà thì siêng năng, chịu khó bươi bới tìm thức ăn; còn ba tôi tuổi tuất, là tuổi con chó, mà con chó thì chỉ biết nằm đó mà chờ ăn, không biết lo nghĩ gì cả. Rồi bà cũng lấy thực tế của hai người con mà so sánh, cho rằng bác Ba rất chí thú làm ăn, chỉ siêng đọc chữ Nho, không có thú chơi bời, và rất tiết kiệm, chỉ biết làm ra tiền mà ít khi nghĩ đến việc xài tiền và cũng rất ít khi giao du với bạn bè, nên càng ngày càng giàu thêm là phải; ngược lại gia đình chúng tôi thì nghèo, vốn liếng làm ăn toàn vay mượn, nhà lại đông con, nhưng ba tôi lại có lối sống phong lưu, tiêu xài như kiểu người khá giả, nên mãi cất đầu không lên cũng là phải. Thuở đó mọi người đều cho rằng cách lý giải của bà là đúng, vì đâu ai có khái niệm gì về bóc lột và bị bóc lột để có thể nói rõ ngọn nguồn. Ngay như hai người con của bà nội thì bác Ba ngày càng giàu lý do không phải đơn thuần như bà nói, mà tiền của có được chủ yếu là do bóc lột sức lao động của những người tá điền dưới hình thức thu lúa ruộng, điều khiến cho họ là những nông dân làm ra hột lúa hột gạo mà cơm không đủ ăn, mặc thì quần áo bằng bao bố tời, con cái lớn xộn vẫn còn ở truồng nói chi đến việc đến trường lớp học hành, đành chịu cảnh mù chữ, dốt nát; còn gia đình chúng tôi ngày càng nghèo đâu phải chỉ do gia đình đông con, do lười biếng hoặc do một mình ba tôi tiêu xài hoang phí, mà chủ yếu là bị những nhà giàu bóc lột bằng hình thức cho vay nặng lãi, lãi mẹ đẻ lãi con, trả hoài không hết; vả lại thuở đó Nhà nước cũng đâu có biện pháp hỗ trợ giúp những gia đình nghèo khó có điều kiện vươn lên thoát nghèo!

          Xin trích một đoạn hồi ký của anh Bảy Noãn nói lên cái nghèo của gia đình chúng tôi: Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, đông con. Ba, má tôi sinh được mười một người con, chết hai lúc nhỏ, còn chín người nuôi cho tới lớn. Từ khi tôi bắt đầu hiểu biết, khoảng sáu, bảy tuổi, gia đình chúng tôi sống bằng nghề làm ruộng. Ba tôi mướn hai mẫu đất của người bác ruột tên Nguyễn Văn Vẹn - Ba Vẹn ở xã Mỹ Quý, nay là xã Mỹ Đông, huyện Tháp Mười. Hằng năm, ba tôi đều phải đóng đủ lúa ruộng cho bác tôi, con số cụ thể thì tôi không biết, chỉ nhớ có năm nào đó làm mãn năm mà chỉ chở về nhà ở Cao Lãnh được năm giạ lúa, tức 100 kg. Đối với một gia đình đông con như gia đình cha mẹ tôi thì đó chẳng khác gì muối bỏ bể”. Hằng ngày ba tôi phải trực tiếp cầm cày, má lo việc cơm nước, chị Hai Nguyễn Thị Thuấn và chị Tư Nguyễn Thị Hoa thì lo cắt cỏ cho bò ăn, làm cỏ lúa, dặm lúa và đuổi chim khi lúa chín vì thuở đó đất Tháp Mười chim trời nhiều vô số kể. Mùa lúa chín mỗi nhà có ruộng đều phải làm một cái giàn cao, mang lên một đống đất sét ướt và leo lên đứng trên giàn với một cây “cần vụt” để đuổi chim. Khi chim bay tới, người ta lấy cục đất sét nắn vào đầu cây “cần vụt”, cố vụt cho thật xa, vừa vụt, vừa la: “Hô!… Hụi!...” để xua đàn chim.  Đến mùa lúa ra đồng trông rất vui mắt, mỗi nơi một giàn cao, người người vừa vụt đất, vừa đuổi chim vừa la…

            Thuở đó ba, má chúng tôi dù làm ăn rất cực khổ, buông nghề này, bắt nghề kia, nhưng vẫn không khá lên được do đông con. Sự nghèo khó của cha mẹ đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con cái. Anh em chúng tôi thường ăn lót dạ buổi sáng bằng cháo hoặc cơm nguội hấp lại. Hôm nào không có cơm, cháo, thì má cho mỗi đứa nửa đồng xu, đủ mua một củ khoai lang, hoặc một chén cháo đậu. Tôi nhớ có lần đứa bạn học ngồi kế bên tên H.T.P là con nhà giàu, nó ăn một cái bánh bao thơm phức làm tôi thèm nhểu nước miếng. Tôi phải nhịn ăn bốn bữa sáng mới có đủ hai đồng xu mua được cái bánh bao ăn cho đã thèm! Khi đi học khổ nhất là khi hết giấy. Có lần vở học không còn giấy tôi xin Má tiền để mua, má chỉ nói gọn ba chữ: “Hết tiền rồi!”. Tôi vừa đi sau lưng má, vừa xin, vừa khóc thút thít… Cuối cùng, má cũng móc túi lấy ba đồng xu ném xuống đất, kèm theo một câu: “Đó, mầy ăn dọng gì thì ăn đi!”. Tôi mừng quá, chạy lại lượm ba đồng xu ra tiệm mua được cuốn tập ba mươi hai trang mới có thể tiếp tục đến lớp.

            Lúc nhỏ má tôi may cho một cái áo sơ mi ngắn tay và hai cái quần đùi, mỗi chiều đi học về phải đem quần áo xuống sông giặt, phơi đêm để sáng có cái mà mặc đi học. Gặp bữa trời mưa quần áo phơi cả đêm vẫn chưa thật khô, nhưng sáng đến vẫn phải lấy cái áo ướt mặc đi học. Mỗi khi áo rách tôi phải tự vá lấy, nhứt là hai vai áo, vá riết nó dày mo. Lúc đó, tôi nghĩ rằng có được quần áo lành lặn mặc đi học là tốt lắm rồi! Lúc mười hai tuổi tôi bị bệnh sốt rét cách nhật, một ngày có, một ngày không, Ba tôi phải mượn tiền đi mua thuốc quinine về bán lấy lời để có thuốc cho tôi uống. Lúc đó cái bụng tôi binh rỉnh, ghẻ ngứa đầy mình, nhìn như con “lươn bông”, thấy cảnh tôi đau hoài anh Ba Thanh Nha nói: “Noãn, mầy thèm cái gì thì cứ ăn cái nấy rồi chết phứt đi cho xong, thấy mày đau hoài tao rầu quá!”.  Anh đã nói thật lòng mình. Theo quan niệm của tôi trước đây thì tôi cho rằng xã hội phải có người giàu, người nghèo; người nghèo phải đi làm mướn cho người giàu thì xã hội mới sống được; nếu như ai cũng giàu, hoặc ai cũng nghèo cả thì xã hội này sẽ chết hết.

            Khi tôi nói quan niệm đó thì anh Ba Thanh Nha và chị Bảy Liên đều cho rằng tôi nói như vậy là sai. Như ở nước Nga đâu có ai nghèo, không có ai làm mướn cho ai cả. Vì mọi người đều có việc làm, đều khá giả, nhưng có ai chết đâu? Trong đầu tôi lóe lên một tia sáng về đời sống xã hội ở nước Nga. Tôi ước ao sao cho xã hội mình cũng được như nước Nga để ba, má tôi và anh em chúng tôi khỏi khổ mặc dầu tôi không biết Chủ nghĩa Cộng sản ra sao và nước Nga ở đâu. Nhiều lúc suy nghĩ thấy trong gia đình tôi ba, má đều chịu cực, chịu khổ để lao động, buông nghề này bắt nghề khác. Ba tôi phải chèo ghe đi lên, đi xuống tận Cà Mau để buôn bán; rồi phải trực tiếp cầm cày cày ruộng... Má tôi thì tảo tần buôn bán suốt ngày làm ăn, bốn giờ khuya phải thức dậy đi chợ, đến tối mịt mới về tới nhà...mà sao ba má tôi vẫn nghèo hoài? Bác Ba tôi là một nhà “thâm nho”, cứ chê ba, má tôi là vì “dốt quá”nên mới như vậy. Dần dần lớn lên tôi mới biết là do hoàn cảnh xã hội lúc đó như: nước lụt lúa chết, chuột bọ phá lúa...ai làm sao biết trước để mà đề phòng? Nuôi bò cày kéo, bị chết ba con bởi lúc đó đâu có thuốc men gì nhiều; hằng năm phải đóng đủ lúa ruộng cho bác Ba tôi; bị Đệ tam Sư đoàn bắt phải xài giấy bạc 500 đồng; rồi má tôi phải lo lót tiền bạc cho bọn lính kín và đồn Tây khi ba tôi và tôi bị chúng bắt giam vv... Ba má tôi chỉ có cái lỗi là quá đông con. Nhưng thời đó đẻ bao nhiêu thì nuôi bấy nhiêu, đâu có kế hoạch gì!”

 
     
  Cộng tác viên ( BÁO VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |