Thứ Sáu, ngày 14 tháng 8 năm 2020        
     
 
   Quê hương-Đất nước-Con người
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  13/05/2011  
  Trâu ở vùng Đồng Tháp Mười  
 

Theo Dự thảo quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long - Việt Nam (1993), thì ở đây, động vật có số lượng nhiều nhất là loài và bộ chim (386 loài), kế đến là loài cá (260 loài), loài bò sát và động vật có vú (23 loài), và loài lưỡng cư (6 loài).

          Là 1 trong 6 tiểu vùng của Nam Bộ, lại như một vùng đệm giữa miền Đông và miền Tây, giữa thềm phù sa cổ và biển, nằm trọn vẹn trong vùng hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông, và sông Vàm Cỏ, với 4 vùng địa lý thực vật khác nhau, trước đây, hệ động vật vùng Đồng Tháp Mười rất phong phú và đa dạng.

          "Xét về mặt địa lý, cảnh quan Đồng Tháp Mười không phải là vùng ngập nước quanh năm, lại không phải đơn thuần là một biệt đảo trên đất liền. Trên thực tế, vào mùa khô, động vật từ vùng phù sa cổ có thể "xuống" Đồng Tháp Mười, chúng không về kịp vào mùa nước lũ từ sông Cửu Long đổ về phải tìm nơi cư trú trên những giồng hay mô gò đất cao hơn mực nước lũ, và động vật dưới nước ắt không khác với các giống loài của sông Cửu Long"1.  

 
 
 

          ConTrau2.jpg

Từ vùng gò giồng phù sa cổ, đê sông rạch với rừng nhiệt đới nguyên thủy, nhiều động vật có vú lớn nhỏ như voi (tượng), tê giác, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, hoẵng, vọc, khỉ, chồn, sóc, mèo rừng, rái cá, chuột, bọ, dơi ...

          Nhiều nhất và tồn tại đến ngày nay là chuột và dơi (Các tên gọi Đầm Dơi, Tràm Dơi đã nói lên điều đó). Ngược lại các loài khác hầu như đã vắng bóng , chỉ còn lại trong các câu chuyện kể, qua vết tích khảo cổ (răng voi, xương voi, xương trâu rừng ...), miễu thờ (Ông Hổ, Rái cá ...) hay các địa danh như: sông Bạch Ngưu với vàm Trâu Trắng, Cù lao Trâu, mương Trâu, đìa Trâu, gò Trâu, đường Tượng, láng Tượng (Đồng Tháp), bàu Voi, giồng ông Hổ (Đức Huệ, Long An).

          Hình ảnh loài trâu được ghi lại sớm nhất ở vùng Đồng Tháp Mười là vào năm 1296 do Châu Đạt Quan - nhân viên sứ bộ Trung Quốc - ghi lại trong "Chân Lạp phong thổ ký": "Từ thị trấn Chân Bồ ..., chúng tôi đi ngang qua biển Côn Lôn đi vào cửa sông. Sông nầy có hàng chục ngã, nhưng ta chỉ có thể vào được ngã thứ tư, các ngã khác có nhiều bãi cát, thuyền lớn đi không được. Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào thế nên các thủy thủ, cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa sông".

          Và " Vào nửa đường trong sông (sông Tiền) thấy những cánh đồng hoang không một gốc cây. Xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy, hàng trăm hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy ..."2

          Môi trường sinh thái ngập nước, lầy lội của vùng Đồng Tháp Mười là điều kiện sinh sống của loại trâu rừng. Chúng sống thành bầy, đàn và sinh sôi nảy nở theo thời gian.

          Cũng cần nói thêm: Người dân vùng Đồng Tháp Mười trong lúc khai hoang mở đất, đào mương đào đìa, đã phát hiện được nhiều bộ xương lớn của động vật trong lòng đất và họ nghĩ đó là xương voi (tượng). Trong quá trình khai quật khảo cổ Gò Tháp, chúng tôi có dịp tìm hiểu về những bộ xương động vật này và theo chuyên gia cổ nhân cổ sinh Lê Trung Khá thì đây là những bộ xương trâu rừng chứ không phải xương voi.

          Khi cư dân người Việt đến khai phá vùng đất Nam Bộ, trong đó có Đồng Tháp Mười, với phương thức trồng lúa nước, họ đã sớm sử dụng trâu mang từ nơi khác hoặc thuần dưỡng trâu rừng tại chỗ. "Con trâu là đâu cơ nghiệp" như ở quan niệm truyền thống từ quê gốc, lại rất cần thiết trong việc khai mở đất hoang và canh tác ruộng sâu nơi đây.

          Bên cạnh chiếc xuồng ba lá để đi lại quanh năm trên sông rạch, bưng trấp, trâu còn dùng làm sức kéo ở những chân ruộng ngập nông. Người dân vùng Đồng Tháp Mười đã sáng tạo ra cộ trâu (lĩa trâu) để chuyên chở nông cụ, thóc giống, cá mắm hoặc kéo lúa về sân. Tiến thêm một bước, xe trâu ra đời. Đầu tiên là xe trâu bánh gỗ, kế đến là xe trâu bánh hơi (tức bánh xe ô tô) chuyên dùng chở cá tát đìa vào mùa khô từ trong đồng về nhà hoặc ra bờ kinh bán cho các lái rỗi (chở cá đi bán tại các thị trấn, thị xã, thành phố).

          Năm 1937, trong lúc đi đo đạc vùng Đồng Tháp Mười, học giả Nguyễn Hiến Lê cũng đã có dịp đi xe trâu từ Gãy Cờ Đen về hướng Tây vùng Đốc Vàng (tức vùng Tân Phú, Tân Thạnh huyện Thanh Bình, Đồng Tháp ngày nay). Tác giả kể: "Mờ mờ sáng, chúng tôi thức dậy thì hai người phu (tôi nhờ thầy hương quản ở Gãy kiếm hộ) đã ngồi đợi chúng tôi ở trên bờ. Họ trên ba mươi tuổi, vạm vỡ, đội nón lá, bận quần áo đen, lưng đeo nóp, trong đó một gói đựng vài lít gạo và vài con khô (con mắm). Họ chia nhau xách một thùng đồ của sở và một đựng mùng, mền, thức ăn của chúng tôi. Họ đã mướn một chiếc xe trâu, mang đồ đặt trong xe. Uống xong một ly sữa. Chúng tôi khởi hành"3.

          Con trâu có nhiều tác dụng như vậy, người có nhiều trâu cũng đồng nghĩa giàu có, kiếm được nhiều tiền. Trong dân gian có câu "Một vũng trâu nằm hơn năm làm mướn".

          Thế là nhiều nhà giàu đua nhau mua trâu, tạo ruộng và nghề "giữ trâu mướn" ra đời.

          Gặp những năm nước lớn, số trâu nhờ giữ mướn càng nhiều. Ngoài số trâu nội đồng, còn có số trâu ngoài vùng (thường là nơi tiếp giáp xung quanh Đồng Tháp Mười). Theo các bậc kỳ lão vùng Cù Lao Tây (gồm 5 xã: Tân Quới, Tân Hòa, Tân Huề, Tân Bình, Tân Long), huyện Thanh Bình, thì vào mùa nước, những nhà giàu đưa trâu vào các gò ở Đồng Tháp Mười (như gò Me Nước, gò Mười Tải, gò Cà Dâm, gò Quản Cung ...) để cầm hoặc mướn người giữ. Những người giữ trâu mướn chuyên nghiệp có khả năng nhớ đặc điểm từng con trâu, đàn trâu. Khi cần, họ có thể tách ra từng con trâu, từng đàn trâu cho chủ. Buổi sáng, họ thả trâu đi ăn khắp cánh đồng, chống xuống ba lá để ven trâu đi đúng hướng. Chiều, họ lùa trâu lên gò, chỗ nghỉ của trâu (còn gọi là phồn trâu). Trâu thích đầm mình trong nước hoặc nằm trong những vũng bùn sền sệt để tránh muỗi mòng.

          Tiền giữ một đôi trâu trong một mùa (khoảng từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch) chừng vài chục giạ lúa (tương đương với vài ngàn đồng thời trước năm 1945).

ConTrau.Jpeg

          Nghề giữ trâu cực khổ mà vui. Người giữ trâu điêu luyện tìm cách khống chế, o bế, thuần dưỡng con trâu đầu đàn (thường là con trâu cổ to khỏe có đôi sừng to, đều đặn, gân bóng, chắc nịch). Nhờ vậy, họ chỉ cần cởi hoặc lùa con trâu nầy đi đâu thì cả bầy cùng theo, có khi nó tự dẫn đàn đi ăn rồi tự động dẫn đàn về chỗ cũ.

          Người chăn trâu còn phải biết cởi trâu phi nước đại, có thể đứng trên lưng trâu đang chạy, thậm chí nhảy từ lưng con trâu này sang lưng con trâu khác mà không bị té ngả. Để phân định địa bàn chăn thả, lắm lúc cũng phải thách thức đua trâu, chọi trâu với những tay chăn trâu "anh chị" chẳng khác nào một cuộc "Cờ lau tập trận" thời Đinh Bộ Lãnh !!.

          Trâu có giá và hiếm, vì có nhiều người mua trâu về nuôi để vừa cày ruộng cho mình vừa cày mướn cho người khác. Dân miệt Tân Phú, Tân Thạnh, An Phong ... (Thanh Bình) phải lên tân Cao Miên mua trâu về nuôi.

          Từ đó, xuất hiện nghề buôn trâu, thường thì những tay hảo hớn, võ nghệ cao cường mới dám làm nghề này vì phải đương đầu với bọn ăn trộm trâu, cướp trâu cũng rất ma mãnh và hung bạo ...

          Con trâu đã có mặt ở vùng Đồng Tháp Mười từ lâu đời. Ngày nay trong xu thế chuyển đổi về cơ cấu cây trồng vật nuôi, tại vùng Đồng Tháp Mười cơ cấu gia súc, gia cầm có xu thế tăng nhanh đàn heo, gia cầm; giảm mạnh đàn trâu, bò vì đồng cỏ thu hẹp và cơ giới trở thành phương tiện chính để làm đất, sức kéo.

          Năm 1994 (so với năm 1987) thì đàn trâu ở vùng Đồng Tháp Mười giảm còn 45,9%.

          Tuy nhiên, những địa danh cù lao Trâu, mương Trâu, đìa Trâu, gò Trâu ... còn ghi lại dấu ấn một thời của loài trâu trên vùng Đồng Tháp Mười và hình ảnh con trâu gắn bó với người nông dân mãi còn lưu truyền qua ca dao:

                              "Trên đồng cạn dưới đồng sâu

                              Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa."

------------------------

CHÚ THÍCH:

•1.     Trần Bạch Đằng chủ biên (1996), Địa chí Đồng Tháp Mười, NXB. Chính trị Quốc gia Hà Nội, trang 43 - 44.

•2.     PGS. Huỳnh Lứa, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Tài liệu giảng dạy của Trung tâm Đào tạo Sau Đại học - Viện KHXH tại TP. HCM, Bản đánh máy vi tính dài 23 trang, trang 3 -4 .

•3.     Nguyễn Hiến Lê (1989), Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, NXB Long An, tr. 77 - 78.

 
     
  Hữu Nhân ( (Bài của Ngô Văn Bé))  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |