Thứ Sáu, ngày 14 tháng 8 năm 2020        
     
 
   Quê hương-Đất nước-Con người
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  11/05/2011  
  NÚI ĐẤT – CỤM “GIẢ SƠN” Ở VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI  
 
Sau khi vượt qua khoảng 65 km theo tỉnh lộ 49 từ thị xã Tân An đến thị trấn Mộc Hóa trong cái nắng gay gắt, oi bức vào mùa khô của vùng Đồng Tháp Mười, tự nhiên bạn muốn tìm một nơi để trú nắng và nghỉ ngơi. Có một điểm đến lý tưởng, đó là Núi Đất (cách ngã tư Biên Phòng khoảng 500m về phía tay trái trên đường ra cửa khẩu Bình Hiệp).
 
 
 

LONG KHÁNH

clip_image002.jpg

Núi Đất là núi do bàn tay con người xây đắp dưới dạng những ngọn giả sơn (núi giả). Nhìn tổng thể Núi Đất giống như hòn non bộ khổng lồ nổi lên giữa hồ nước trong xanh, êm đềm, thơ mộng... bao gồm 3 tiểu đảo, hai nhà thủy tạ và hệ thống cây xanh, hoa kiểng bao bọc xung quanh chia làm 3 phần chính:

Phần một: nằm trong khung viên phía trước hồ với cổng vào trang trí nổi. Bên trong là hệ thống nhà làm việc, nhà tiếp khách, nhà hàng ăn uống.. có bố trí hoa kiểng, chim chóc.

Phần hai: đây là phần chính của khu Núi Đất, có một hồ nước dài và rộng với diện tích hơn 6.248m2 bao quanh các hòn giả sơn. Bờ hồ được cẩn đá, tráng xi-măng với lối đi viền quanh mép nước dưới tán những rặng liễu cùng một số cây xanh khác nhằm lấy bóng mát và tạo cảnh quan. Một cây cầu đúc bê-tông giả gỗ uốn cong, mềm mại rộng chừng 2 thước có lan can thanh mảnh nối khuôn viên ra các tiểu đảo.

Tiểu đảo I: hình bầu dục, có hai hòn núi: núi lớn và núi nhỏ.

Núi lớn cao khoảng 8,5 thước, được đắp bằng đất có lẫn đá xanh và đá ong. Hai con đường quanh co được lót đá tạo thành bậc thang đi từ chân lên đỉnh, điểm cao nhất của khu vực. Từ đây nhìn xuống, du khách sẽ thấy rõ toàn bộ khuôn viên và cảnh quan xung quanh Núi Đất. Rải rác đó đây là những tảng đá với góc cạnh lởm chởm, cỏ mọc xen lẫn khắc đậm thêm chất rêu phong. Du khách tưởng chừng như mình thật sự đứng trên một hòn núi tự nhiên giữa trời cao, gió lộng...

Tiểu đảo II: bên trên cũng có một hòn núi nhỏ, cách bố trí, đắp đất đá... cũng giống như núi nhỏ của tiểu đảo I. Chân núi được cẩn đá và xi-măng. Từ thân lên đỉnh có 2 con đường lót đá tạo thành từng bậc thang, thuận tiện cho việc lên xuống... Một chiếc cầu đúc bê- tông dài chừng 6 thước nối tiểu đảo I sang tiểu đảo II.

Tiểu đảo III: Xa xa phía bên trái hồ sen (từ cổng nhìn vào), tiểu đảo III được tạo dáng giống như một hòn non bộ và một trái núi nhỏ được đắp bằng đá. Tiểu đảo này được che phủ bởi hai gốc cây bồ đề.

Non cao ai đắp mà cao?

Câu ca xưa gợi nhớ về quá khứ ...

Đó là vào những năm từ 1957 đến 1960, cùng với việc chấn chỉnh địa lý hành chính và xây dựng tỉnh lỵ Kiến Tường ở Mộc Hóa, chính quyền tỉnh Kiến Tường đã bắt tù chính trị đào đất xung quanh khu vực này đắp thành Núi Đất.

Thuở ấy, Kiến Tường tuy là tỉnh nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, gần với biên giới Việt Nam – Campuchia, khó khăn về mặt phát triển kinh tế, nhưng có ý nghĩa chiến lược – một cứ điểm cắm sâu giữa bưng biền kháng chiến của cách mạng. Cùng với tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường giữ vai trò ngăn chặn hành lang chiến lược của cách mạng miền Nam từ miền Tây lên miền Đông, từ biên giới phía bắc Đồng Tháp Mười đi về Bến Tre, Mỹ Tho...

Sau khi nhận quyết định được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Tường (1957), Trung tá Đinh Văn Phát gấp rút kiến thiết tỉnh lỵ, trong đó có việc xây dựng công trình Núi Đất ngay tại Mộc Hóa.

Đinh Văn Phát đã lên Sài Gòn rước hoa viên kiến trúc về nghiên cứu, thiết kế khu Núi Đất sao cho phù hợp với mỹ quan của một trung tâm tỉnh lỵ mới.

Đề án thiết kế qui hoạch tổng thể khu Núi Đất được Ngô Đình Diệm thông qua và cấp kinh phí xây dựng.

Đinh Văn Phát nảy sinh ra một “sáng kiến gian ác”: thay vì dùng tiền ngân sách thuê nhà thầu và công nhân xây dựng thì y lại sử dụng lực lượng tù chính trị đang bị biệt giam tại trại giam Kiến Tường (thường xuyên từ 500 đến 600 người) ra lao động khổ sai tại đây.

Mỗi ngày có hơn 200 tù nhân lao động trên công trường. Mỗi người vận chuyển 1m3 đất đá, hai người vào một kíp khiêng đá. Chỉ huy lao động là lực lượng lính Bảo an tại Mộc Hóa và canh gát vòng ngoài đề phòng tù nhân trốn thoát do lính tỉnh Kiến Tường kiểm soát.

Lịch làm việc của tù nhân rất sát sao, sáng: từ 7 giờ đến 11 giờ 30 phút. Sau đó nghỉ trưa và tập trung về lại trại giam ăn cơm. Chiều: từ 13giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút.

Ai không làm nổi công việc giao khoán thì sẽ bị bọn Bảo An đánh đập và còn bị nhốt vào trại biệt giam. Có nhiều tù nhân yếu sức do bị bệnh hoạn trong tù nên không kham nổi chỉ tiêu, thế là phải hứng chịu đòn roi một cách tàn nhẫn. Nói chung, dù ở trong tù hay đi ra ngoài lao động khổ sai, tù nhân vẫn đoàn kết, thương yêu, tương trợ cho nhau để công trình được hoàn tất.

Công việc được làm rất khẩn trương giữa cái nắng gắt và gió khô rát của Đồng Tháp Mười, cộng thêm muỗi mòng, rắn rít, vừa cực nhọc lại bị đánh đập nên nhiều tù nhân đã ngã bệnh nặng. Có thể nói, công trình xây dựng Núi Đất đã thấm mồ hôi, nước mắt và máu của bao nhiêu tù chính trị lúc đó.

Gần 3 năm xây dựng ròng rã, giữa năm 1960, khu Núi Đất hoàn thành.

Tháng 09/1960, Đinh Văn Phát bị “thuyên chuyển” đi làm Tỉnh trưởng Kiến Phong vì làn sóng bất bình, phản đối của dân chúng tại địa phương về sự cai trị hà khắc và rất nhiều tai tiếng về vấn đề tham nhũng...

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Núi Đất vẫn còn đó và mỗi ngày được những bàn tay lao động của con người vun đắp khiến nó càng đẹp thêm ra.

Di tích lịch sử - văn hóa Núi Đất là một khu cảnh quan thiên nhiên đẹp, được tạo dựng nên bằng bàn tay lao động của con người, nằm ngay giữa lòng trung tâm thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Một du khách đã đến Núi Đất và có cảm nhận như sau:

“Buổi trưa gió từ bờ hồ thổi tới, sóng nước lăn tăn, cây lá chạm nhẹ vào nhau, rì rào... Đứng giữa Núi Đất, người ta tưởng như đang lạc vào một góc cao nguyên thu nhỏ. Giữa cái nắng oi bức của Đồng Tháp Mười, thiên nhiên Núi Đất với phong cảnh thơ mộng, mát mẻ, chim chóc gọi nhau bay về... giúp tâm hồn con người dịu lại”.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lý lịch “Di tích lịch sử  - văn hóa “NÚI ĐẤT”, một thắng cảnh ở Đồng Tháp Mười” do Phòng Văn hóa Thông tin và Bảo tàng Long An thực hiện, năm 1994.
 
     
  Trọng Quý ( Báo Văn nghệ Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |