Thứ Năm, ngày 15 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  05/09/2018  
  ĐÊM VÀ ĐIỆU HỒN TRONG THƠ THAI SẮC  
  Nhìn một cách bao quát các sáng tác thơ của Thai Sắc, đêm chưa đến mức tạo nên một chủ đề lớn bao trùm và chi phối toàn bộ về tư tưởng nghệ thuật, nhưng nó dần hình thành một mạch ngầm xuôi chảy giữa miền thơ. Mạch ngầm ấy có lực nén cảm xúc và tư duy nghệ thuật vận động theo hướng cách tân.   
 
 

ĐÊMĐIỆU HỒN TRONG THƠ  THAI SẮC

                                                       

                                                                                  LÊ VĂN MÍ

       

Thai Sắc là một gương mặt thơ tiêu biểu của Đồng Tháp, tác giả của nhiều tập thơ như: Đối thoại với trái tim (1991); Miệt vườn (1993); Độc ẩm (1996); Ta về với gió (1999); Những chiều không thời gian (2001); Ngày chợt đến (2003); Lục bát những ngày rơi (2009); Trầm tích (2009); Phiên bản (2013). Thai Sắc viết rất đều tay, gần như cứ khoảng 3 năm thì anh lại có được một tập thơ, cho thấy khả năng nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác bền bỉ của nhà thơ. Nhiều bài thơ của Thai Sắc được bạn đọc trên khắp mọi miền đất nước biết đến, đủ mang đến cho riêng nhà thơ niềm vui và tình yêu để anh tiếp tục công việc lao động sáng tạo nghệ thuật, dần ổn định cho thơ mình một phong cách.

          Có hơn hai trăm bài thơ của Thai Sắc được truyền dẫn và kết nối với công chúng qua các kênh đọc khác nhau. Nhiều bạn đọc yêu thích thơ Thai Sắc đã xâu chuỗi lại thành những chùm thơ nhỏ, nhằm đa dạng hóa về hình thức và nội dung thơ. Điều đó là rất cần thiết để hướng đến nhiều đối tượng yêu thơ và cũng làm cho tác phẩm có thêm nguồn sống mới, bám rễ sâu hơn vào đời sống và tâm hồn con người hôm nay. Tuy nhiên, để khẳng định giá trị sáng tạo nghệ thuật của thơ và những đóng góp của người sáng tác, người ta còn phải nhận diện rõ hơn về nét độc đáo của một hình thức nghệ thuật, sự vận động và tính ổn định trong tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, cũng như sự đánh giá khách quan của mọi tầng lớp công chúng bạn đọc về những giá trị  nào đó của một thể loại. Căn cứ vào những quan điểm như vậy, các nhà nghiên cứu sẽ tìm hiểu và xác định các phương diện thi pháp của tác phẩm, hoặc một biểu hiện thi pháp nào đó mà nhà thơ đã thành công trong suốt chiều dài thời gian lao động nghệ thuật của mình.

          Đọc các tập thơ của Thai Sắc, nhiều người chú ý đến những bài thơ có hình ảnh của đêm, bởi tần số xuất hiện của nó khá cao trong các tập thơ của anh. Nếu ta kết nối đêm thành một chuỗi dài xuyên qua các tập thơ của Thai Sắc thì dễ thấy chúng tạo nên dòng chảy cảm xúc và lan rộng trên nhiều bình diện: có khi đêm xuất hiện trên bề nổi của nhan đề; có khi đêm được hòa trộn, đan xen bên trong cấu trúc của bài thơ; có khi đêm như một cung trầm chìm sâu trong các gam màu; có khi nó biến tấu thành nhiều giai điệu tinh tế... Rất nhiều cách để Thai Sắc đa dạng hóa cảm hứng về đêm trong thơ của mình. Cứ mỗi cách dẫn lối người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của đêm, nhà thơ đều trong vai người hướng dẫn viên trải nghiệm. Anh đưa người đọc khám phá những miền đất mới trong tâm hồn, đến gần những vọng cửa lạ của thời gian và không gian nghệ thuật, rồi khẽ khàng vén bức màn thơ để người đọc ngắm nhìn thế giới muôn màu đang chảy tràn...

          Để  khám phá những nét đặc sắc nghệ thuật nêu trên, xin mạn đàm đôi chỗ về cách đọc thơ Thai Sắc, nhất là các tập thơ anh viết từ sau năm 2000 đến nay. Thực tế, không ít bạn đọc của chúng ta cứ hay đọc thơ theo lối mòn, cứ muốn tự buộc chặt sự liên tưởng của mình, hoặc thiết lập một cách đọc tuyến tính như bấy lâu nay. Nghĩa là đọc theo chiều ngang, chiều của thời gian, chiều văn xuôi, chiều liên tục của những con chữ. Cho nên, người đọc rất ít khi khám phá được những vùng miền nghệ thuật mới lạ mà nhà thơ đã cần mẫn sáng tạo. Đôi khi trong sáng tác thơ, nhà thơ cũng phải thử thách bằng cách làm cho hình thức và ngôn ngữ thơ của mình nổi loạn một chút, để tự nó thoát khỏi thân phận của chất liệu và phương tiện mà người sử dụng hay áp đặt nhằm đạt mục đích nào đó trong nghệ thuật. Giả sử chúng ta có chút thay đổi trong cách hiểu ngôn ngữ thơ và cách đọc thơ của Thai Sắc theo hướng mới như: đọc theo chiều dọc bài thơ; đọc theo chiều không gian, chiều thơ, chiều của những con chữ đồng hiện với nhau trong chuỗi thơ. Làm như thế mới phù hợp với bước vận động về hình thức và tư duy nghệ thuật trong thơ Thai Sắc hiện nay.

          Nhìn một cách bao quát các sáng tác thơ của Thai Sắc, đêm chưa đến mức tạo nên một chủ đề lớn bao trùm và chi phối toàn bộ về tư tưởng nghệ thuật, nhưng nó dần hình thành một mạch ngầm xuôi chảy giữa miền thơ. Mạch ngầm ấy có lực nén cảm xúc và tư duy nghệ thuật vận động theo hướng cách tân.

          Mặc dù chưa thể thống kê một cách thật đầy đủ số liệu các tác phẩm có cảm hứng đêm trong thơ của Thai Sắc, nhưng có thể căn cứ vào những gì tác giả đã thể hiện từ việc đặt nhan đề cho đến việc xây dựng kết cấu thơ, ta tạm chia cảm hứng đêm qua hai bình diện sau:

          Đêm xuất hiện ở nhan đề bài thơ: Lục bát đêm (2007); Đêm (2007); Đêm tháng 5 xa xăm (2008); Thượng nguồn đêm (2008); Li vang đỏ trong đêm (2008 ); Phía đêm (2008); Đêm mãn thu (2008); Những hạt đêm (2008); Hạt bụi đêm (2009); Đêm dầu tháng (2008); Đáy đêm (2009); Mưa đêm trái mùa (2009); Đêm hoang mạc (2013); Đêm hoang (2013); Mặt trời thức trong đêm (2013)...

          Đêm ẩn khuất trong kết cấu bài thơ: Áo phản quang (2003); Những chiều không thời gian (2004); Chiều em xa ngái (2007); Khi ngày dừng lại (2007); Khung chiều (2008); Ngày huyền bí (2008); Trăng đá (2008); Giấc mơ biển (2008); Trầm tích (2008); Trước thềm đông (2008); Hai miền thức (2008); Định vị một dáng ngồi (2008); Cõi ba chiều (2008); Huyền vũ (2009); Những ngọn lửa (2009); Thượng huyền nguyệt (2009); Tìm em phía sau chiều (2009); Thời gian (2009); Em gom lặng im vào một cõi (2013); Vì sao lạc (2013); chùm thơ Phiêu đề (2013)...

 Tập hợp những thi phẩm trên lại với nhau theo một chỉnh thể để soi ngắm qua góc nhìn của thi pháp, thì thấy rằng, chúng đều có hình thức nghệ thuật mang nội dung tư tưởng thẩm mỹ xác định. Tất cả đều được nhà thơ Thai Sắc dụng công, chủ ý thể hiện một cách có ý thức về cái tôi của mình trong hệ thống thơ. Nghĩa là nó đã trở thành một phương thức tư duy nghệ thuật để phát hiện, khám phá thế giới và quy luật đời sống của nhà thơ. Theo tôi, thế giới đêm trong thơ của Thai Sắc thực sự sinh động và hấp dẫn người đọc qua các phương diện nghệ thuật sau:

1. Đêm - điệu hồn muôn màu về thời gian và không gian

          Trong thơ của Thai Sắc, đêm ít khi đóng vai trò là thời gian và không gian thuần túy. Nó là thứ thời gian và không gian được lọc qua một điệu hồn, được chưng cất bằng những rung cảm thẩm mỹ rất tế vi của nhà thơ. Dường như đêm đã tạo nên một kiểu điệu hồn vừa quen, vừa lạ ở chỗ: nó vận động theo quy luật không có quy luật, theo kiểu quan niệm thời gian chệch múi giờ, không gian trôi chệch hướng.  

          Thật ra, đêm như một sự thể nghiệm đa chiều điệu hồn của chủ thể sáng tạo. Đó là điệu hồn muốn mở rộng tri giác, khám phá sự sống ở mọi biên độ đến vô cùng của thời gian và không gian, khám phá cõi siêu thực giữa thế giới thực. Tất cả điệu hồn đều được nhà thơ đẩy đưa mơn theo trục dọc, trục ngang của tâm hồn. Có lúc chúng như đan dệt lên nhau, tạo thành những mắt lưới để đánh bắt mọi sự rung cảm vang động từ các chiều ngã của thời gian và không gian chạm tới vạch không.        

          Mặt khác, đêm còn tồn tại như một đơn vị ngôn ngữ thơ. Thai Sắc đã hóa thân nó thành một điệu hồn biết lên tiếng đòi quyền sống trong thơ của mình. Anh cũng sử dụng nó để thiết kế thành các kiểu hình tượng thẩm mỹ. Dụng ý nghệ thuật của nhà thơ cũng không phải là cái gì khác hơn, đó là nhằm gia tăng kích cỡ và màu sắc thẩm mỹ về thời gian và không gian trong thơ. Từ đó, cổ vũ người đọc khám phá cái đẹp theo cách riêng của họ.

Lục lạo trong mớ ngồn ngộn con chữ thơ của Thai Sắc để tìm kiếm những mảnh đêm vốn rất đa dạng và rời rạc nhau, rồi thực hiện trò chơi mảnh ghép nghệ thuật, ta sẽ có được những bức tranh thơ tuyệt đẹp về đêm với những hình khối, màu sắc khác nhau. Nhưng muốn tạo hồn cho những bức tranh nghệ thuật ấy quả thật không dễ chút nào. Người  ghép bức tranh thơ phải có con mắt thẩm mỹ lẫn cái nhìn ngoài màu của người thợ tạo tác thâm niên và sành điệu. Anh ta phải biết cách đặt bức tranh đêm ấy vào cái khung mầu nhiệm của thời gian và không gian đa chiều, có như thế thì mới truyền dẫn vào đó hơi thở của sự sống rung lên ở những khoảnh khắc, có khi hết sức mong manh và khó nắm bắt. Tuy nhiên, Thai Sắc đã biết cách làm cho hồn tranh theo đó mà ẩn tàng trong mỗi hình tượng thơ. Những người xem tranh khi tìm thấy sự đồng điệu với  tác giả, rất dễ bị hồn tranh ghì kéo khỏi cái ranh giới của hiện thực, để chạm vào những vọng cửa lạ của thế giới siêu thực đầy biến ảo của chuỗi thời gian và không gian: chiều - đêm ban mai:

          1.1. Chiều - vọng cửa lạ dần tan

          Khung chiều/ Mở xuyên hoàng hôn cánh cửa đêm/ Ta qua run run giọt nắng/ Rơi tràn nhịp tim/ Khung chiều / Ta bước qua tóc úa/ Bầy nắng hoang cuối ngày/ Dát ánh buồn lên đêm - Nắng nhạt/ Ngày sắp tắt/ Khoảnh khắc hoàng hôn/ Níu đêm đen phía gió - Mảnh nắng cuối chiều cất lên âm điệu buồn của đêm/ Đêm của mặt trời hay đêm của bầy sao - Chiều bạc nắng/ Ta đi về phía côn trùng/ Mò mẩm tìm đêm cùng khí lạnh/ Khi hoàng hôn chưa cất bước giang hồ /Khi sao núi chưa về in một đóa - Anh ngồi trong chính cái nắng chiều nhìn thấy mình cô độc/ Những áng tóc còn đen tự nguyện bay lên/ Góp vào đêm những hạt đời rất thực/ Mắt tự hát giai điệu buồn/ Gọi những dòng đen - Ngoài chân trời đêm đã tới/ Sao có người vẫn ngồi đợi hoàng hôn - Có những lúc anh không em nắng tắt/ Cái định đề nghiệt ngã của thời gian/ Bỗng nhận thấy màn đêm sao quá chật/ Cựa bên nào cũng đụng phải thời gian - Tìm em từ phía sau chiều/ Chao chưa kịp tới rất nhiều phiến đêm/ Hứng tay ra giữa thiên nhiên/ Trĩu đau một giọt rất mềm hư không...

          Với quan niệm thời gian chệch múi giờ, không gian trôi chệch hướng, ngòi bút của Thai Sắc luôn có thiên hướng mở rộng biên độ và điểm nhìn nghệ thuật về chiều, ở mọi ngả của thời gian và không gian, khiến cho chiều trở thành đa kiểu, biến ảo. Đó là chiều của ngày, chiều của chiều, chiều của đêm, đêm trong chiều, chiều của cảm giác, chiều của những tâm trạng, chiều của miền thơ suy tưởng mông lung, mơ hồ… Vì sao lại có nhiều hình ảnh chiều đến như vậy? Có lẽ Thai Sắc là nghệ sĩ rất thích làm nhòe cái ranh giới của thời gian và không gian bằng cách làm lạ hoá gương chiếu thời gian và không gian, nhằm kích hoạt sự liên tưởng đa chiều ở người đọc; thích kéo người đọc trượt theo các chiều ngã của thời gian và không gian suy tưởng của mình; thích phủ lên lớp thời gian và không gian trong thơ mình bằng các trạng thái, cảm giác, cảm xúc của một người giàu trí tưởng tượng; thích sử dụng các ý niệm ngoài trường nghĩa chỉ thời gian và không gian để gợi tả, gợi cảm về thời gian và không gian, làm cho chúng mở rộng ra thêm các vùng miền ngữ nghĩa mới; thích xây những vọng tháp thơ lạ hoá, để người đọc được chiêm ngưỡng những kiểu trúc ngôn ngữ giàu sắc thái của tiếng Việt.

          Trong thơ Thai Sắc, nhà thơ cũng rất ít khi dùng các từ chỉ số đo thời gian vật lí hay các khái niệm không gian địa lí để mô tả những hình ảnh vừa chớp sáng qua hồn. Làm như vậy, mới tạo ra được các kiểu trạng thái tiếp nhận với độ lấp lánh và bừng sáng trong các tầng bậc mỹ cảm. Thai Sắc muốn người thưởng thức thơ của mình luôn đứng giữa cái ranh giới mong manh gần như không có điểm tựa nào của chiều đang chuyển mình vào đêm. Nhưng có khi đó lại là cái cảm giác thú vị nhất mà người đọc thơ cần, bởi họ sẽ được trải nghiệm tâm hồn với những đợt rung lắc cảm xúc xuất phát từ bên trong; với các trạng thái mơ hồ và cũng rất dễ tan biến đi trong niềm tiếc nuối. Nhưng chính điều đó đã tạo được độ lắng của thế giới nghệ thuật kết tinh trong tâm hồn người thưởng thức, ở những lần họ bước qua mỗi nhịp cầu thơ anh.

          Các kiểu không gian đa chiều và thời gian biến hoá trong thơ Thai Sắc cũng sản sinh ra nhiều trường nghĩa thẩm mỹ có tính xúc tác mạnh, đủ năng lượng để đánh thức mọi giác quan và trí tưởng tượng của người tiếp nhận. Có chiều được tác giả gợi tả lạ mắt trong cái bóng ảo mờ của bầy nắng hoang bị thời gian ngập lũ cuốn trôi về phía chân trời. Nhưng cách gợi tả ấy mới làm cho sắc nắng trở nên mênh mông, hoang vắng một cách lạ thường hơn; mới làm cho người đứng giữa chiều có cảm giác ngỡ ngàng, bối rối và thị giác bị chúng cuốn hút. Người đi giữa sắc nắng chiều cảm thấy mình như thể đi giữa cõi hư không hoặc lạc vào một thế giới hoang nào đó và họ cảm thấy nắng chiều hoang như có linh hồn và đầy sức sống. Hình ảnh bầy nắng hoang cũng diễn tả được bản chất vận động không ngừng của thời gian và không gian. Rõ ràng, Thai Sắc đã làm cho khái niệm chiều rẽ khỏi dòng chảy của mô - típ thường thấy về thời gian và không gian bằng sự gợi hình gợi cảm. Dường như anh cũng có chút nổi loạn trong  cách sử dụng ngôn ngữ thơ, với dụng ý làm mới hình tượng nghệ thuật, nhằm gia tăng đáng kể các sắc thái và dáng điệu của cái đẹp về thời gian và không gian.

          Có chiều được tác giả dựng thành: khung chiều, cánh cửa đêm, nhằm tạo ra các lớp không gian đa hình khối. Làm như vậy là để hữu hình hóa cái ranh giới vốn rất trừu tượng và rộng lớn, nhưng cũng hết sức mong manh của thời gian và không gian. Có chiều được tác giả khoác chiếc áo phôi pha của màu  nắng nhạt, bạc nắng như thể pha loãng sắc thái của ngày đang gắng gượng lịm dần trước gã đêm âm thầm kéo tấm màn tối phủ xuống không gian chiều. Có chiều được tác giả đặt điểm nhìn xuyên qua những kẽ lá hay một ô cửa nhỏ xinh xắn, đa hình nào đó từ một ngôi nhà, khiến cho thân thể của chiều như bị cắt thành những mảnh chiều, mảnh nắng, phiến đêm nho nhỏ, nghiêng ngả, ảo diệu. Rồi như thể bị gã thời gian lén lút nhặt nhạnh rải ra khắp mọi phía, những mảnh vỡ của hồn chiều bay xa, mắc vướng khắp chiều ngả của không gian. Lại có chiều như bị cái nắng của hư không bên dưới vòm trời hâm nóng, làm cho khối tinh anh của trời đất đang ẩn mình trong cõi sâu của thời gian tan loãng ra, lần lượt trút xuống những vùng thấp thiếu ánh sáng như một dòng thác tưởng tượng; rồi như thể bị cái lưới lạnh của tầng mây kết dính, lọc chúng rỏ xuống chiếc màn trời trong vắt thành giọt nắng long lanh, đung đưa trước thềm nhà hoặc sau vòm cây lá non xanh nào đó. Lại có khi tác giả đắm say nâng niu trong tay mình giọt nắng chiều, giọt hư không rất mềm, chừng như thể nâng niu đôi bàn tay xinh xắn của người mình yêu trong lần đầu tình tự vậy! Rõ ràng, phương thức trữ tình về thời gian và không gian chiều như thế đã tạo nên thế giới chiều thật đa hình, đa tình và có độ lan cảm xúc rộng khắp.

          Nhà thơ Thai Sắc bằng điệu hồn yêu đời, say mê cái đẹp, lẩn khuất những nỗi buồn vui trong đời. Anh thích chụp lấy những khoảnh khắc chuyển động của bước chiều đang đi vào đêm. Đôi mắt khám phá thế giới chiều của nhà thơ có lúc khá giống với đôi mắt của nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp. Anh thích đặt ống kính có khẩu độ tự động để có thể chụp lấy được nét mơ hồ của mọi hình thể thiên nhiên đang trong trạng thái tan chảy khối hồn; thích chụp lấy chiều ảo vừa thoáng thấy ở ngõ hồn mình trong cái chớp tích tắc của những mảnh chiều dần tan. Chính vì thế, những chuyển động nho nhỏ của chiều và cái rình mò chực chờ của đêm, lẫn cái lắc lư của điệu hồn chủ thể trữ tình đang say cảnh, say tình đều được ghi hình lại một cách tinh tế và hết sức chân thực. Có những bức ảnh như chụp được cả thần thái ẩn tàng bên trong tầng tháp thời gian và không gian; chụp thấu được nguyên sơ trạng thái đồng nhịp của hai điệu hồn như thể đang lẫn vào nhau: ở đỉnh hoàng hôn ta thấy điệu hồn run run giọt nắng, rơi tràn nhịp tim; ở phía cuối những con đường và cánh đồng, ta thấy có điệu hồn lạc trong bầy nắng hoang cuối ngày, rồi đơn độc dát ánh buồn lên đêm; có điệu hồn mò mẫm níu lấy gió lại vì sợ nắng chiều tắt, phiến đêm kéo về nhanh. Cái tôi rất đỗi yêu đời của thi sĩ sợ phải ngụp lặn mỏi mòn giữa cái định đề thời gian nghiệt ngã…

          Thực sự, những cảm nhận đa chiều về chiều của đêm như vậy là rất gợi cảm. Chẳng những nhà thơ diễn tả được tâm thế tiễn chiều rất nhân thế, mà còn mở rộng tâm thế đón đêm cũng rất đời. Đó là tâm thế của một người đã đi qua khoảng rộng của thời gian và không gian ở cõi nhân gian, đứng chông chênh bên kia bờ dốc vô thường của cuộc đời, nâng hồn mình bay lên cao để ngưỡng vọng cái đẹp của tạo hoá đang tiềm tàng trong khoảng lặng mênh mông. Đối với nhà thơ, thế giới chiều là thế giới của sự vận động và luôn hữu hình. Chiều cũng mang linh hồn của sự sống và tình yêu, của nguyên khối cái đẹp thiên nhiên vĩnh hằng đang tồn tại. Chúng  hiện ra muôn màu và có sức cuốn hút đối với các giác quan. Bởi thế, hồn thơ của Thai Sắc thường xuyên bị va đập, bị đánh thức và luôn khắc khoải, luôn bâng khuâng bởi những lần thời gian và không gian tăng thêm tuổi, hay là  những lần nắng gió hư vô trăn trở chuyển mình dọc theo bờ mùa của tháng năm.

          Nổi lên rõ nhất trong chuỗi thơ chiều vẫn là dòng cảm xúc và trạng thái cô độc, buồn, trĩu đau của nhà thơ  lẩn khuất vào nền thơ, giống như vệt mây tím mỏng manh đan quyện vào mảng mây trắng trên nền chiều hoang. Có lúc chúng như chiếc cầu cảm xúc mắc nối vào khung đêm, khiến cho mọi góc thời gian và không gian trong thơ đong đầy tâm trạng. Nhiều người có chút hoài nghi về cái tôi thi sĩ rất đỗi yêu đời, mẫn cảm với thời gian và không gian như Thai Sắc vì không rõ sao lại thảng thốt thấy mình cô độc, buồn trĩu đau đến như vậy? Ở đây chẳng có gì dị biệt và ghê gớm cả. Lẽ dĩ nhiên ai cũng vậy thôi, đứng trước cái mênh mông của không gian và thời gian vĩnh hằng, con người cảm giác mình thật nhỏ bé, mới thấy cuộc đời mình là hữu hạn, mới thấy cái tình trong trái tim mình là mong manh. Nên khi đó lại là sự thương cảm về mình, thương cảm về người, thương cảm về đời. Những ai càng ý thức về dòng chảy của thời gian và không gian thì càng thấy mình độc hành giữa những mênh mông sắc thái, mới hiểu được sự cô độc của một hồn thơ khát khao tìm kiếm sự giao cảm ở mọi ngõ đời mình và ngõ đời người còn ẩn khuất ở phía trước. Cảm giác buồn trước những thứ đáng buồn và trĩu đau trước những thứ đang sinh sôi rồi sẽ mất dần đi trong thế giới ta nhìn thấy, đó chẳng phải  là ý thức về thời gian ứng với cái tôi mẫn cảm rất thi sĩ của Thai Sắc đó sao? Những nỗi buồn đau kia đều hướng đến sự thương mình, thương người và thương đời, đó chẳng  phải là những biểu hiện của trái tim nghệ sĩ đa tình như Thai Sắc đó sao? Cho nên, nỗi cô độc, sự cô đơn, nỗi buồn, lòng trĩu đau như tấm gương phản chiếu các sắc thái của điệu hồn, phẩm chất, các giá trị nhân văn trong thơ Thai Sắc vậy!

1.2. Đêm - màn giao hưởng phi quang hòa âm với suối nguồn và trăng sao

          Đêm/ Cái hoang mạc của trời - Đêm giàn giao hưởng phi quang/ Kí ức đậm đặc sắc đen chùm hoa lạc - Đêm ì ạch kéo phiến trăng về phía không màu - Đêm co mình nép vào bầu trời xếp dày tầng mây sũng nước - Rừng đêm/ Bóng ta thẫm đen/ Tựa giọt lạnh trên tường/ Gầy rộc từng gốc cây ý nghĩ - Từng mảnh đen rớt đêm núi vào ta/ Siêu phàm giấc mơ cõi thực - Đêm len lỏi mạch suối trong veo trắc ẩn/ Chảy vào cánh rừng chia xa/ Mỗi đêm long lanh một thượng nguồn tinh khiết/ Khát khao bến bờ tỏa nắng - Những hạt đêm/ Đều chìm mắt em/ Vòm sao nhỏ nhoi tiếng thở/ Sự sống rộng dài ngọn lửa - Muôn ngàn vệt sáng sao trời/ Quẹt sâu trong ánh lửa mặc đời vô vi - Anh thả những giai điệu ngày vào li vang đỏ/ Đêm vẫn đen phía sau mặt trời phía trước vầng trăng - Đêm xa xa đến mịt mờ/ Thượng nguồn trăng lạc bến bờ chạnh rơi/ Chở gì nhanh thế trăng ơi/ Mà mỏng manh mạn thuyền bơi cuối trời...   

          Nhìn vào bức hoành tranh đêm trong chuỗi thơ trên dễ thấy nhà thơ đã tạo dựng nhiều kiểu thời gian và không gian đêm có tính xê dịch: có khi đêmrừng đêm, có khi đêmcái hoang mạc của trời, nhằm gợi khoảng trống mênh mông, hoang vắng, khô cằn với cảm giác cái hoang dã bao quanh. Đứng trước nó, con người thấy mình cô độc, nhỏ bé, lạc lối và sợ hãi. Nhưng không gian ấy cũng gợi cho con người ý tưởng như muốn làm cuộc phiêu lưu, muốn khám phá tất thảy những bí ẩn về cái đẹp và sự sống chứa đựng bên trong vũ trụ rộng lớn. Có khi đêm được nhà thơ ví von là giàn giao hưởng phi quang, gợi liên tưởng đến  thế giới không ánh sáng. Nhưng chủ ý của nhà thơ không phải mô tả kích cỡ hay là màu sắc của đêm, mà kín đáo gợi tả lớp trầm tích âm thanh vang động trong đa tần không gian và thời gian mà hồn mình đón nhận được, mới thấy sự nhạy cảm của một hồn thơ!

          Ở một phương diện khác, đêm có khi được trừu tượng là hạt đêm nhằm gợi tả cái nhìn sâu vào huyền vi của thế giới bóng tối. Nhưng hạt đêm cũng là cách trực giác thẩm mỹ về thời gian và không gian của nhà thơ: đêm là nguyên khối huyền vi; nhưng cũng có thể tưởng tượng đêm là sự tích tụ thế giới hạt huyền vi tuôn chảy theo dòng thời gian. Vậy khi gọi đêmhạt đêm thì cũng nhằm hữu hình hoá về thời gian và không gian theo hướng thẩm mỹ và liên nghệ thuật của Thai Sắc. Theo anh, đêm là một thực thể đang tồn tại và luôn có sự nối kết với cảm xúc, cảm giác con người chứ không phải là một hư không trống rỗng. Đêm, do đó có sức hút từ chính cái đẹp của riêng nó, nhưng không phải ai cũng cảm nhận được.

          Có khi đêmđêm núi, nhằm gợi tả kích cỡ vừa như cao ngất, vừa như đáy vực sâu, vươn bóng ra ngoài vũ trụ. Sự kì vĩ của nó khiến cho con người choáng ngợp, rồi cảm thấy mình thật nhỏ bé, yếu ớt và tan biến đi. Đêm còn được nhà thơ gắn vào chúng các trạng thái của con người như: đêm co mình; đêm ì ạch; đêm len lỏi; đêm long lanh; đêm xa… khiến cho chúng như những sinh thể có linh hồn và mang tâm trạng như con người. Có lúc, chúng như cô đơn,  lạnh lẻo. Có lúc, chúng khát khao hơi ấm. Có lúc, chúng khắc khoải nỗi nhớ thương. Có lúc, chúng chìm đắm vào cõi mơ siêu phàm...

          Rất lạ, đêm dù là không gian của bóng tối, nhưng bức tranh thơ của Thai Sắc lại hiện lên với nhiều gam màu ánh sáng: có ánh sáng bồng bềnh nhè nhẹ trôi, đong đưa với dáng vẻ mong manh của phiến trăng, mảnh trăng; có ánh sáng như như chiếc đĩa trời dát bạc, sáng trong của vầng trăng, trăng lạc; có ánh sáng li ti nho nhỏ, nhấp nháy giăng mắc ngang trời của vạn vệt sao trời, vòm sao; có ánh sáng ấm áp của ánh lửa, ngọn lửa… khiến cho bức hoành tranh của đêm trở nên rực rỡ, tươi sáng ở mọi chiều ngã thời gian và không gian, chẳng khác gì vũ trụ là một sân khấu nghệ thuật của thời gian và không gian được thiên nhiên trang điểm lộng lẫy sắc màu, để người nghệ sĩ và muôn loài dùng  cây đàn muôn điệu của tâm hồn hoà âm thành bản giao hưởng bất tận về sự sống và tình yêu.

         Phải lắng hết hồn mình vào hồn đêm, phải mở rộng hết kích cỡ hồn mình vào hồn đêm, người nghệ sĩ mới đón nhận được âm thanh của sự sống và tình yêu đang đồng điệu với thời gian và không gian như vậy. Hoá ra, đêm là một thế giới tuyệt đẹp và có sức hút. Hoá ra, đêm còn là một kiệt tác nghệ thuật của vũ trụ, tự nó biến ảo theo cảm xúc của con người. Phải chăng kiệt tác ấy khơi sâu nguồn mạch sáng tạo, góp phần tô điểm vẻ đẹp cuộc sống và tâm hồn con người?

          1.3.  Ban mai - nụ cười huyền vi nở thành ánh ngày

          Những hạt đêm/ Ken đầy nhớ/ Anh mang vào ánh ngày/ Long lanh/ Say - Sóng nắng rạch nhát kiếm/ Rặng ban mai rịn khóc dưới vài giọt đêm hờ - Thức dậy nhìn đêm đầu tháng ngả màu/ Tiếng cú rớt từng âm vắng/ Mùa đông gã ăn cắp thời gian/ Lén lút luồn ngày tháng - Nhìn xuyên ánh nhìn mơ /Gặp huyền vi nụ cười đêm sắp nở/ Em về chưa ngoài dốc thăm thẳm đời dài/ Mai lại một ban mai - Sáng nay cũng có thời gian/ Tự đánh thức mình nửa chiếc kim đồng hồ cắm cột mốc giấc ngủ/ Ta ghì đám mây báo bão che lấy mặt trời/ Mà đêm vẫn tàn đắng chát trên môi…

          Nguồn năng lượng huyền vi của đêm vận động và nở thành: ánh ngày; sóng nắng; rặng ban mai; một ban mai; mặt trời; giọt nắng; nụ cười… Nếu ta ghép những hình ảnh ấy lại với nhau thì đó sẽ là một  bức tranh thơ tuyệt đẹp và rạng ngời về buổi sáng. Người đọc rất thích  thú với chi tiết đặc tả nắng sáng sớm lạ mắt của nhà thơ: Sóng nắng rạch nhát kiếm/ Rặng ban mai rịn khóc dưới vài giọt đêm hờ. Nếu giọt nắng gợi người đọc liên tưởng đến nắng đọng lại thành giọt nho nhỏ, tròn tròn thì sóng nắng lại gợi người đọc liên tưởng đến sự lan tràn, toả rộng, nhấp nhô thành những vệt dài, từng lớp, từng đợt với cường độ mạnh, nhưng  ta có thể trực giác được. Vậy là nắng đã được nhà thơ bóc hết lớp vỏ cũ kỉ mà người ta hay đựng trong chiếc hộp kính với style quen thuộc. Thực sự, Thai Sắc đã khoác lên nó một hình hài và màu sắc lạ mắt, nhằm gợi tả bước vận động đầy năng lượng của nắng sáng trong không gian đa chiều. Con mắt thơ của Thai Sắc đã biến ảo chúng thành kiểu hình tượng nghệ thuật rất độc đáo; dựng thành không gian và sắc thái của cái đẹp ban mai, với điểm nhìn phối hợp liên ngành hội hoạ và điêu khắc.

          Ghép động từ rạch rất mạnh mẽ vào giữa hai hình ảnh sóng nắngnhát kiếm để tạo thành hình tượng thiên nhiên kì vĩ của nắng ban mai: sóng nắng rạch nhát kiếm. Hình ảnh sinh ra từ sự so sánh táo bạo và đầy sáng tạo của tác giả: nhà thơ chẳng những chụp lại được kích cỡ quang học của nắng mà còn đặc tả được độ loáng sắc của nắng sáng. Nguồn năng lượng tích tụ từ thế giới huyền vi của đêm đã truyền dẫn vào ban mai thành sóng nắng sắc như nhát kiếm. Chúng vươn xa, rạch vào lớp mây bão, phá tung quãng trời đêm quây, cắt đi cái lạnh của mùa đông, thọc xuyên ánh sáng qua những vùng tối bên trong hàng cây kẽ lá, làm tan chảy những giọt sương đêm và xuyên qua một tâm hồn nhạy cảm, làm bừng sáng những vùng tối của tâm hồn. Hình ảnh sóng nắng rạch nhát kiếm của Thai Sắc khi được đi cùng với những hình ảnh khác trong chuỗi thơ : ánh ngày; rặng ban mai; mặt trời; nụ cười… chẳng những diễn tả được sức nén năng lượng của sự sống tích tụ trong thiên nhiên mà còn truyền dẫn vào người đọc niềm tin tỏa rạng, chúng làm nên cái chớp mi rạng ngời ở khoảnh khắc con người mở ánh nhìn đón ban mai, với nụ cười toả nắng.

          Ta thấy có một điệu hồn bị đánh thức trước ánh ban mai, lòng rộng mở đón nhận sự sống và tình yêu chảy tràn vào. Các sắc thái biểu cảm của tâm hồn buổi ban mai như: nhớ; say; nụ cười; ánh nhìn mơ…  cùng với các câu hỏi tu từ em về chưa; vì đâu,; làm sao… đã tạo nên những cung bậc suy tư của cái tôi trước thời gian và cuộc đời đang vận động về phía trước. Những lời chất vấn ấy vừa như bâng khuâng, vừa lo lắng, như để trả lời cho những câu hỏi của trái tim giàu tình yêu. Cho nên trong chuỗi thơ, ta thấy rất nhiều lần nhà thơ dùng khái niệm thời gian để thể hiện ý thức và sự bất lực của mình trước gã thời gian vừa như hữu tình vừa như vô tình: thức dậy nhìn đêm đầu tháng ngã màu; mùa đông gã ăn cắp thời gian; sáng nay cũng có thời gian; mai lại một ban mai; mà đêm vẫn tàn đắng chát trên môi… Chẳng phải là những suy tư về cuộc đời và tình yêu của nhà thơ trước một chuỗi ngày mới để viết thành những định đề cuộc sống và cách sống cho riêng mình đó sao?

          2. Đêm và ta - sự tri âm, đồng điệu của hai điệu hồn

          Trong thơ của Thai Sắc cặp từ tađêm, đêmta xuất hiện với một tần suất khá dày, chúng lặp đi lặp lại và tạo thành một hình thức nghệ thuật của thơ:

          Đêmta và bóng những vòm sao/ Gục đầu lên nỗi cô độc ngọt ngào - Ta đêm ngậm ngùi như đá/ Đau hoang sơ dưới gót chân mờ - Khung chiều/ Mở xuyên hoàng hôn cánh cửa đêm/ Ta qua run run giọt nắng/ Rơi tràn nhịp tim - Chiều bạc nắng/ Ta đi về phía côn trùng/ Mò mẩm tìm đêm cùng khí lạnh - Ta/ Giọt bụi trần/ Lắng hồn đáy đêm/ Thắp/ Riêng mình - Đêm ì ạch kéo phiến trăng về phía không màu/ Đêm không còn biết ôm nỗi nhớ của ta và hát/ Điệu hát buồn mọc lên từ thẳm sâu lòng đất/ Từ thẳm sâu trái tim trú ngụ chốn nào - Sáng nay cũng có thời gian/ Tự đánh thức mình nửa chiếc kim đồng hồ cắm cột mốc giấc ngủ/ Ta ghì đám mây báo bão che lấy mặt trời/ Mà đêm vẫn tàn đắng chát trong mô - Rừng đêm/ Bóng ta thẫm đen/ Tựa giọt lạnh nhân tạo trên tường/ Gầy rộc từng gốc cây ý nghĩ - Từng mảnh đen rớt từ đêm núi vào ta/ Siêu phàm giấc mơ cõi thực - Làm sao đếm được em trái tim em bàn tay em/ Đóng đinh vào ta trái tim ta bàn tay ta/ Mảnh nắng cuối chiều cất lên âm điệu buồn của đêm/  Đêm của mặt trời hay đêm của bầy sao - Ta hạt bụi đêm/ Tự đào hầm lò qua giấc mơ đen - Đêm trắng lời sám hối/ Ta cười trắng bình minh - Trong từng kẽ đêm/ Xếp đặc lửa đêm/ Ta nung/ Vũ trụ độ/ Nỗi nhớ em - Đêm hoang/ Ta khép mình nơi ốc đảo - Đêm hoang/ Ta neo chặt ước ao vào mong manh gió - Một ngày gió cuốn bạc đầu/ Rưng rưng ta hỏi vì đâu khuyết đời/ Trăm ngàn giọt nắng mù khơi/ Làm sao soi nổi khoảng trời đêm quây...

          Sự xuất hiện của cặp từ loại ấy, nếu chỉ  nhìn thoáng qua thôi thì không dễ phát hiện ra mối quan hệ qua lại của chúng. Thực sự thì chúng giống như một đôi bạn tri âm, tri kỉ vậy! Hai từ đêmta được nhà thơ liên kết, mắc nối với nhau chẳng những bằng sợi dây ngữ nghĩa trong câu thơ, mạch thơ hay tứ thơ, mà còn liên kết, mắc nối với nhau bởi sợi dây nội cảm tinh tế từ những điệu hồn. Dường như chúng có mặt trong thơ Thai Sắc như một cách để nhà thơ thể hiện sự đồng điệu nào đó của điệu hồn mình với thế giới xung quanh?

          Thực ra, cách thức để người sáng tác thể hiện tâm hồn như Thai Sắc vốn đã có ở một số tác giả thơ tên tuổi trước anh, nhưng cặp từ đêmta không phải lúc nào cũng xuất hiện song trùng với nhau trong một câu thơ.Ví như nhà thơ Bích Khê trong bài thơ Cuối thuĐêm nay hồn lặng làm sao/ Cảnh thu ôm cả chiêm bao vào lòng hay Xuân Diệu trong bài Vội vàng: Ta muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Ta muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi. Rất hiếm khi có được cặp từ loại này xuất hiện trong cùng một câu thơ. Ví như nhà thơ Huy Cận là người đã sử dụng chúng trong bài thơ Buồn đêm mưa: Đêm mưa làm nhớ không gian/ Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la…/ Tai ương giọt nước mái nhà/ Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn hay Hàn Mặc Tử trong bài thơ Đêm trăng thì: Hữu tình ta gặp lại ta/ Đêm nay mới thấy đậm đà khuôn thiên…     

          Ở đây, các nhà thơ xếp đặt đêm với ta khá ngẫu nhiên. Do đó, đêm xuất hiện trong thơ với vai trò là hình tượng của thời gian và không gian thuần tuý. Chúng hiện lên như một khách thể để nhà thơ lấy đó mà ngụ tình, chứ không phải thể hiện chúng như một hình thức của thơ. Tôi nhận thấy đêmta trong thơ Thai Sắc được nhà thơ chủ ý sắp xếp như một hình thức hẳn hoi, chứ không phải là một sự ngẫu nhiên nào cả.

          Từ một góc nhìn khác, đêmta trong thơ Thai Sắc còn với vai trò như là hai chủ thể trữ tình tương ứng và có tính chất phụ thuộc lẫn nhau, cái này sẽ là một nửa của cái kia và ngược lại. Giữa chúng được tác giả se chặt bằng  sợi dây cảm xúc cùng cung bậc, để từ đó chúng có thể ngân nga đồng âm thành một điệu hồn. Giả sử chúng ta tách đêm hoặc ta ra khỏi cấu trúc ngữ pháp của câu thơ, thì hoá ra đêm hoặc ta sẽ trở nên lạc lõng trong kết cấu thơ và chẳng còn ý nghĩa biểu cảm, biểu thái gì; hoá ra Thai Sắc là người dẫm chân lên lối mòn của người đi trước sao?

          Lược lại chuỗi thơ trên của Thai Sắc, ta còn thấy lớp từ biểu cảm, biểu thái thường được nhà thơ sử dụng xen giữa chuỗi thơ có hình ảnh đêmta. Có lẽ nhiệm vụ của chúng vừa để liên kết ý thơ, mạch thơ, vừa để chở theo các thông điệp trải nghiệm tâm hồn, như cũng vừa gửi gắm, chia sẻ những suy tư, trăn trở với cuộc sống, với mọi người, với thời gian và không gian của tác giả. Chính vì thế mà ta thấy trong chuỗi thơ thường xuất hiện các dòng trạng thái của một cái tôi: gục đầu lên nỗi cô độc; ngậm ngùi; đau hoang sơ; tràn nhịp tim; ôm nỗi nhớ; đánh thức mình; điệu hát buồn; đắng chát trong môi; trái tim em; trái tim tôi; lời sám hối; nỗi nhớ em; ước ao; bạc đầu; rưng rưng… Rõ ràng, những trạng thái cảm xúc ấy hoá thân vào ngôn ngữ thơ, tác giả đã biến chúng thành điệu hồn biết lên tiếng.

          Nhưng rất có thể sự sóng đôi của đêmta cũng là quan niệm thẩm mỹ có cặp có đôi trong thơ Thai Sắc. Quan niệm này được Xuân Diệu thể hiện khá thành công trong thơ giai đoạn trước 1945, tạo nên xu hướng thẩm mỹ hiện đại của trào lưu Thơ mới. Nay Thai Sắc khởi động quan niệm thẩm mỹ ấy lại bằng cách anh phát huy tối đa ưu thế của một hình thức nghệ thuật với phương thức trữ tình tinh tế, nhạy cảm, nhằm gia tăng sắc thái của một điệu hồn lãng mạn, đa tình?

          Khảo sát chuỗi thơ trên, ta thấy vị trí của  đêmta trong thơ Thai Sắc không cố định; hoặc chúng không phải được nhà thơ tổ chức sắp xếp  theo một kết cấu cứng nhắc; hoặc theo trật tự trước - sau, chính - phụ, giữa chúng luôn có sự chuyển đổi giao hoán với nhau khá linh hoạt:  Đêmta và bóng những vòm sao/ Gục đầu lên nỗi cô độc ngọt ngào- Ta đêm ngậm ngùi như đá/ Đau hoang sơ dưới gót chân mờ… Cho nên cũng có thể nghĩ đêm chính là ta và ngược lại. Chúng trở thành những phiên bản cho nhau, tạo nên phương thức trữ tình đặc biệt trong thơ Thai Sắc. Nhờ vậy mà thơ Thai Sắc đã tự khoác lên nó nhiều màu sắc, kích cỡ, cung bậc cảm xúc khác nhau, giúp nhà thơ cùng thực hiện nhiều cảm quan nghệ thuật, tạo những mạch ngầm cảm hứng, cảm xúc, vừa phóng túng, tự do và đa chiều. Tất nhiên, chính sự nhảy múa linh hoạt của lớp ngôn từ ấy đã tạo ra một kết cấu động của thơ, trở thành một đặc điểm về hình thức của thơ Thai Sắc vậy. Anh dùng hình thức nghệ thuật thơ ấy để cảm nhận thế giới, giải thích quy luật cuộc sống, thể hiện các cung bậc cảm xúc tinh tế của mình…

          Cần rất nhiều thời gian và công sức để xây dựng một hình thức thơ cho mình. Về điểm này, Thai Sắc đã là người thành công. Con đường thơ của anh đã định hình khá rõ, theo năm tháng đã khắc dấu một phong cách thơ. Đọc thơ của Thai Sắc, tôi rất muốn nhập vào đó một điệu hồn để cùng anh khám phá cái đẹp, nhưng vẫn cảm thấy thế giới đêm trong thơ anh thật mênh mông, dường như mình vẫn chưa thể khám phá hết sự sống ẩn tàng bên trong nó.     

 

                                                          5/2018

                                                                                                                                                          L.V.M
 
     
  Cộng tác viên ( Hội Liên hiệp VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |