Thứ Sáu, ngày 14 tháng 8 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  15/07/2020  
  KHÔNG GIAN THỜ THẦN NÔNG TRONG ĐÌNH LÀNG  
  Ở Nam Bộ nói chung, Thần Nông được thờ ở nhiều không gian khác nhau, có khi được thờ trong chính điện, trong miếu nhỏ lộ thiên ngoài đồng, ven đường hay phổ biến nhất là vị trí thờ trong sân đình làng. Ở các đình làng trên địa bàn Đồng Tháp, tục thờ Thần Nông được thể hiện rõ nét qua không gian thờ trong sân, trước gian đình chính.   
 
 

KHÔNG GIAN THỜ THẦN NÔNG TRONG ĐÌNH LÀNG

(Trích Đình làng Nam Bộ và tục thờ Thần Nông

- nhìn từ Đồng Tháp (*))

 

NGUYỄN HỮU HIẾU - LÊ THÀNH THUẬN

 

Cùng với công cuộc khai hoang lập ấp trên vùng đất Đồng Tháp ngày nay, các đình làng cũng được xây dựng, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân nơi đây. Nhiều đình được thành lập trong nửa đầu thế kỷ XIX. Đến cuối thế kỷ XIX thì một số miếu Thần Nông cũng xuất hiện ở ven vùng tả ngạn sông Hậu, thuộc huyện Lai Vung ngày nay. Sự hình thành của đình làng cũng mở đầu cho việc phối thờ Thần Nông bên cạnh các vị thần bảo trợ cho làng xã, các bậc tiền nhân đã có công khai phá đất đai, lập làng, lập ấp. Hầu hết các sắc phong cho đình làng ở Đồng Tháp do nhà Nguyễn cấp, có niên đại thế kỷ XIX, nhiều nhất là sắc phong Thành hoàng bổn cảnh năm Tự Đức thứ V (1853). Nên có thể tạm chấp nhận, tục thờ Thần Nông xuất hiện trong đình làng trước tiên, sau đó dần phát triển ra phạm vi lớn hơn. Và mốc thời gian hình thành tục thờ này trên vùng đất Đồng Tháp là vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, rồi tiếp tục được định hình, hoàn thiện và phát triển hơn từ giữa đến cuối thế kỷ XIX.

Ở Nam Bộ nói chung, Thần Nông được thờ ở nhiều không gian khác nhau, có khi được thờ trong chính điện, trong miếu nhỏ lộ thiên ngoài đồng, ven đường hay phổ biến nhất là vị trí thờ trong sân đình làng. Ở các đình làng trên địa bàn Đồng Tháp, tục thờ Thần Nông được thể hiện rõ nét qua không gian thờ trong sân, trước gian đình chính. Khi phối tự trong đình làng, tục thờ Thần Nông phổ biến hơn thờ Hậu Tắc. Đàn Xã Tắc thờ Thần Nông thường được dựng ở sân đình, ngay phía trước gian giữa đình. Đàn Xã Tắc được xây trên nền cao gồm bệ thờ Thần Nông, hướng phía ngoài có bình phong dựng đứng, nối liền bệ thờ trang trí các đề tài liên quan đến văn hóa tín ngưỡng truyền thống. Bệ thờ và bình phong thường được xây bằng gạch.

Đàn Xã Tắc là một nơi linh thiêng nên khi đắp đàn phải chọn hướng đất tốt, loại đất tốt thì nghề nông mới phát triển, làng xóm êm ấm, hạnh phúc. Sự hưng thịnh của quốc gia gắn với sự vững bền của xã tắc. Xã tắc là ý niệm về đất nước không thể tách rời với ý thức về quốc gia, dân tộc. Cho nên, sơn hà gắn liền với xã tắc như là điều tất yếu.

Với quan niệm thiêng liêng về Đàn Xã Tắc như vậy, nên đất dựng đàn phải là loại đất thơm được cho là loại đất xốp màu mỡ gà, không pha tạp chất. Thêm vào đó, trong khi tiến hành nghi lễ tế Thần Nông, cũng phải tuân thủ quy tắc nghiêm ngặt như: không cho trẻ con và gia súc đến gần Đàn Xã Tắc, không làm chuồng trại hoặc làm ô uế khu vực gần kề và hướng chính Đàn Xã Tắc (1).

Mặt trước bình phong (hướng ngoài đình), thường có mô - típ trang trí chung là hình tượng Long mã - Hà đồ. Sự tích này bắt nguồn từ văn hóa truyền thống Trung Hoa, có liên quan đến phép bói thời xưa được ghi chép trong Kinh Dịch. Theo thuyết này, vào đời Phục Hy (2) (khoảng năm 4.477 - 4.362 TCN), có con Long mã (thân ngựa, đầu rồng, vảy rồng) xuất hiện ở khu vực sông Hà. Trên lưng con Long mãHà đồ tức là các nét chấm từ một đến mười.

Vua Phục Hy thấy Hà đồ nên xét đoán sự vật dựa vào các chấm ấy. Ông xem trời, xem đất và muôn loài rồi vạch ra Bát quái. Bát quái là 8 quẻ tượng trưng cho sự vật, hiện tượng trong trời đất, nguồn gốc hình thành nên vũ trụ, vạn vật. Tám quẻ ấy gồm Càn (Trời) - Đoài (Đầm) - Ly (Lửa) - Chấn (Sấm) - Tốn (Gió) - Khảm (Nước) - Cấn (Núi) - Khôn (Đất). Từ 8 quẻ, phát triển ra thành 64 quẻ, 384 hào (3). Mỗi quẻ, mỗi hào trong Kinh Dịch tượng trưng cho sự vật, hiện tượng gắn liền với vạn vật, vũ trụ và vận mệnh đời người. Từ đó, sinh ra phép bói toán về vị lai, quá khứ được tổng hợp trong Kinh Dịch, theo những mối liên hệ và nguyên tắc nhất định để xét đoán vận mệnh của đời người, của sự vật.

Mô - típ trang trí đề tài Long mã - Hà đồ trên bình phong thờ Thần Nông ở hầu hết các đình làng Đồng Tháp thường được đắp nổi bằng xi măng với hình tượng con linh thú mình ngựa, đầu rồng, vảy rồng, có sừng, trên lưng có mang theo cuốn thư. Cá biệt, có đình chỉn chu hơn trong trang trí đề tài như trường hợp đình Tân Nhuận Đông (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp). Mô - típ trang trí Long mã - Hà đồ trên mặt bình phong thờ Thần Nông ở đình Tân Nhuận Đông được ghép lại từ mảnh gốm sứ nhiều màu vô cùng sắc sảo, mỹ thuật. Cũng có một số đình không theo mô - típ thường thấy mà trang trí đề tài về tứ linh hay hoa văn cuốn thư như đình Định Yên (xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp).  

Mặt trong bình phong (hướng trong đình) thường đắp nổi hai chữ Hán cổ 神農 (Thần Nông), trang trí mô - típ đề tài về tứ linh; mãnh hổ tọa sơn lâm… Cũng có đình trang trí đề tài tứ linh, hoa lá chim muông (đình Định Yên), chữ đắp nổi trên bình phong không phải chữ Hán cổ mà là chữ quốc ngữ được cách điệu (đàn tế Thần Nông tại miếu Bà Chúa Xứ, xã Mỹ Hòa, huyện Tháp Mười).

Như đã nhắc qua ở trên, thờ Thần Nông ở Nam bộ có tích hợp thêm yếu tố mới là thờ Thần Hổ. Cho nên, mô - típ trang trí mãnh hổ được thể hiện phổ biến trên các bình phong của đàn Thần Nông ở các đình Nam bộ nói chung, đình làng trên địa bàn Đồng Tháp nói riêng. Đơn giản nhất là hình ảnh chúa sơn lâm từ trên rừng núi đang bước xuống oai vệ. Đôi khi, mặt trước bình phong đàn thờ Thần Nông (hướng ngoài đình) cũng thường có trang trí cảnh rồng vờn cọp, mang ý nghĩa âm dương hòa hợp, mưa thuận gió hòa. Trên bình phong cũng thường có đôi câu đối chữ Hán:

Hổ cứ sơn lâm phù xã tắc

Long du nguyệt điện tráng sơn hà.

(Cọp chiếm sơn lâm phò xã tắc

Rồng chơi nguyệt điện giúp sơn hà) (4).

Phía sau bức bình phong (hướng trong đình) là bàn thờ Thần Nông, trên có bày biện lễ vật, khí tự dùng tế thần trong các dịp lễ Kỳ yên diễn ra tại đình làng. Ở các đình Nam Bộ, bệ thờ Thần Nông được xây phía sau bức bình phong cũng đồng thời mang ý nghĩa tích hợp: thờ Thần Nông và thờ Thần Hổ. Đàn thờ Thần Nông cũng khá đơn giản, chỉ gồm bệ đất (nay thường được xây bằng xi măng), trên có bày biện các đồ thờ và phía trước (mặt ngoài đình) là bình phong có hình long - hổ. Ở đây đã có sự chuyển hóa từ tín ngưỡng Thần Nông sang tín ngưỡng Thần Hổ. Do một số nguyên nhân, ở các đình không còn bàn thờ Thần Nông mà được thay bằng bình phong long - hổ dưới dạng bia Ông Hổ…

Trên bàn thờ Thần Nông, ở đàn thờ thường có bày bộ tam sự hoặc ngũ sự, bình bông và các chung nước dùng khi tế lễ. Ở một số đình làng, trên bàn thờ Thần Nông còn có hũ nước nhỏ và một cái gáo tượng trưng cho buổi đầu sơ khai khi con người còn sinh hoạt đơn giản. Phía bốn góc của bục thờ còn có cắm 4 cây đèn cầy (nến) tượng trưng cho ngày trên dương thế là đêm dưới âm phủ, đêm của thần thánh. Ở một số đình làng, còn có đặt một thau nước và khăn tay khi ông Chánh bái và hương chức trong đình làm lễ (để sử dụng trong nghi thức Quán tẩy, Thuế cân (5)).

Khi làm lễ thì có học trò lễ, lính hầu mặc lễ phục chầu hai bên bục, tay cầm khí cụ phục vụ cho nghi thức. Ngoài ra còn có đội nhạc lễ (nhạc sanh) đánh chiêng, trống, mõ, trỗi nhạc trong lúc hành lễ. Nghi trượng dùng trong lễ tế Thần Nông thường có tàn lọng. Dưới đất, trước bàn thờ Thần Nông, có trải chiếu để các hương chức tiến hành nghi lễ. Một số đình cũng đặt các bàn tế phân biệt vị trí của các thành viên tế, mỗi khu vực này có chức năng khác nhau. Phía trước bàn thờ có bàn thấp (gọi là tợ cúng) để đặt các lễ vật dâng lên Thần Nông trong dịp tế lễ ở đình làng.

 

N.H.H - L.T.T

______________

(*) Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2020.

(1) Hồ Tường, Nguyễn Hữu Thế (2005), Đình ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb.Trẻ, tr.44.

(2) Phục Hy cũng là một trong 3 vị hoàng đế (Tam Hoàng), đặt nền móng cho sự hình thành Kinh Dịch - một quyển sách ghi chép về triết lý phương Đông.

(3) Tạp chí Tri tân, số 170, ra ngày Thứ Năm, 14/12/1944, tr.4.

(4) Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường (1993), Đình Nam bộ tín ngưỡng và nghi lễ, NXB.TPHCM, tr.27.

(5) Quán tẩy là rửa tay, Thuế cân là lau tay trước khi thực hiện một nghi thức. Về các nghi thức này, sẽ được nói rõ hơn ở phần sau.

 
     
  Nguyễn Hữu Hiếu ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |