Thứ Ba, ngày 18 tháng 6 năm 2019        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  26/04/2019  
  TÍN NGƯỠNG ÔNG CHUỒNG BÀ CHUỒNG  
  Có thể thấy rằng, tín ngưỡng ông Chuồng bà Chuồng là hình thức cầu cho sức khỏe các vật nuôi trong nông nghiệp, là nét đẹp trong phong tục dân gian hàm chứa nhiều giá trị nhân văn sâu sắc.   
 
 

TÍN NGƯỠNG ÔNG CHUỒNG BÀ CHUỒNG

 

ĐINH VĂN NHÂN

 

Những ngày Tết đã trôi qua, nhà nông bắt tay vào sản xuất một mùa vụ mới đầy niềm tin và hy vọng. Để vững tâm hơn, nhiều người ngoài việc chọn cây giống, con giống tốt, họ còn đi chùa, đình, miếu, cầu mưa thuận gió hòa, người yên vật thịnh cho một năm lao động sản xuất được bội thu. Nếu lĩnh vực trồng trọt có tín ngưỡng Thần Nông thì trong chăn nuôi, người nông dân cũng có phong tục rất độc đáo là cúng ông Chuồng bà Chuồng để cầu mong những điều tốt lành cho hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chuồng là nơi nhốt (nuôi) các con vật nuôi nên quan niệm dân gian sẽ có vị thần cai quản ở đó. Và do không biết tên thần cụ thể nên người ta gọi một cách dân dã là ông Chuồng bà Chuồng. Đồng thời theo quan niệm dân gian cái nào cũng thường có đôi có cặp nên có ông tất phải có bà. Không biết tín ngưỡng này có tự bao giờ và nhân vật được thờ cúng cụ thể là ai? Khi hỏi một số cụ cao niên ở Nam bộ thì họ nói chỉ là ngày trước thấy ông bà mình chăn nuôi cũng hay cúng vái như vậy và làm theo vì có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Tín ngưỡng này không chỉ phổ biến ở nông thôn Nam bộ mà còn có ở một số vùng quê miền Trung, miền Bắc, biểu hiện là trong dân gian những nơi này còn lưu truyền câu chuyện về ông Chuồng bà Chuồng đại khái như sau:

Ngày xưa, ở một làng quê nọ có hai vợ chồng già rất nghèo, không nơi nương tựa. Gặp phải năm hạn hán, mất mùa, ai cũng lâm vào cảnh khổ, hai vợ chồng đành chịu cảnh đói, uống nước cầm hơi. Họ bèn tìm đến chỗ các nhà khá giả để xin miếng cơm thừa. Nhưng trong lúc đói kém, ai cũng dè xẻn, còn chút đồ ăn thừa thải nào họ cũng vét để dành cho bữa hôm sau. Bí quá, hai vợ chồng đành phải đi trộm bã cám heo để cầm hơi. Đêm đêm, họ lẻn đến các chuồng heo nhà giàu, nhổ nọc chui vào, nhặt mớ cháo cám mà lũ heo giành ăn làm vương vãi trên nền mang về nấu lại cho sạch mùi hôi, quyết cầm cự cho qua lúc đói. Vì cớ đó, các chuồng heo mà họ bước qua trở nên sạch hơn, mùi hôi trong chuồng cũng vì thế mà bớt phần khó chịu.

Có một chủ nhà, lâu ngày cũng nhận ra chuyện thay đổi đó nhưng không để ý. Một hôm, người chủ nhà này khó ngủ, tình cờ phát hiện có hai bóng đen lẻn vào rút cây nọc chuồng heo bỏ qua một bên rồi bò vào bên trong. Cho rằng có kẻ lẻn vào trộm heo, sẵn cây nọc chuồng nằm sẵn, chủ nhà bèn cầm lấy rồi giáng vào hai bóng đen kia những cú thật mạnh. Cú đánh nhằm chỗ hiểm, hai vợ chồng gục xuống chết tươi. Khi phát hiện mình vừa lỡ tay đánh chết hai mạng người, lại sợ tai vạ ập xuống khi việc đến tai quan, chủ nhà bèn cùng gia nhân tâm phúc đào huyệt cạnh chuồng heo, chôn hai kẻ bất hạnh ngay trong đêm.

Chuyện xảy ra chẳng ai biết ai hay, vì cả làng đều đang chạy đôn chạy đáo kiếm miếng ăn, chẳng ai quan tâm đến sự mất tích của hai vợ chồng kia. Mọi người đều cho là vợ chồng họ đã bỏ xứ đi ăn mày và lâu ngày, thấy họ không về, ai cũng nghĩ có thể họ đã chết bờ chết bụi nơi đâu rồi.

Một thời gian sau, người chủ chuồng heo lỡ tay ngộ sát kia đêm nào cũng chiêm bao thấy nạn nhân hiện về đòi mạng. Cầu cúng mãi không hết, sợ quá, ông bèn đem lễ vật lên khai báo mọi chuyện với quan. Sau khi tra xét đầy đủ, lại nhận thấy kẻ có tội thật sự ăn năn, quan bảo: Lâu nay đói khát lan tràn, dân tình khốn khổ, ta không có cách chi cứu tế kịp thời, trách nhiệm một phần cũng thuộc về ta. Nay ngươi, tuy không cố ý, nhưng cũng đã gây ra án mạng. Xét ngươi thành tâm muốn chuộc tội, chuyện lại xảy ra trong cơn đói chết người, nay ta không truy cứu nữa nhưng ngươi phải sửa sang mồ mả nạn nhân cho chu đáo, hằng năm kỵ giỗ cúng tế thành tâm.

Ông chủ nhà tuân lời quan dặn nhưng vì không biết danh tính hai nạn nhân nên đặt tên cho họ là ông Chuồng bà Chuồng để việc thờ tự tiện bề khấn vái. Từ đó về sau, hồn nạn nhân không còn hiện về đòi mạng nữa, mà lạ thay, heo trong chuồng kẻ gây án ngày một béo tốt. Chuyện lạ lan ra khắp làng, ai nấy cũng bắt chước cúng ông Chuồng bà Chuồng để mong cho heo chóng lớn và tín ngưỡng này vẫn còn tồn tại nhiều vùng nông thôn cho đến này nay.

Về hình thức, thờ cúng ông Chuồng bà Chuồng cũng rất giản đơn. Người ta chỉ đóng một cái tran nhỏ trên góc nóc chuồng và đặt bát nhang (có nhiều chuồng cũng không có lập tran thờ). Mỗi khi chuẩn bị thả trâu, bò, heo, gà, vịt… để bắt đầu nuôi, người nông dân thường sửa sang, quét dọn cho chuồng nuôi sạch sẽ, rãi vôi bột xung quanh. Khi thả các con vật vào chuồng, có nhiều người kỹ tính lựa giờ tốt và nhờ người hạp tuổi thả vào giúp. Thả xong, chủ vật nuôi đứng cạnh chuồng vái lầm rầm, cầu ông Chuồng bà Chuồng độ hộ cho vật nuôi khỏe mạnh, mau ăn chóng lớn, sau này khi gả (bán) xong sẽ tạ lễ bánh, trái cây, gà, vịt, cháo… tùy theo giao kèo của gia chủ. Hoặc nhiều người ban đầu không vái cúng nhưng khi nuôi một thời gian, con vật bị bệnh hoài chậm lớn hoặc khi tới lứa bán rồi mà bán chưa được cũng cúng vái ông Chuồng bà Chuồng cho thuận lợi. Khi mọi việc chăn nuôi được suôn sẻ và bán được giá, gia chủ chuẩn bị lễ vật như đã giao kèo kèm thêm nhang đèn, trà rượu, gạo muối, giấy tiền vàng bạc mang ra cạnh chuồng nuôi để cúng trả lễ ông Chuồng bà Chuồng (ở Nam bộ ngày trước, người nuôi trâu, bò cũng thường cúng ông Chuồng bà Chuồng vào dịp đầu năm mới). Cúng xong, trà rượu rưới xuống đất (rưới lên mình vật nuôi hoặc cho chúng uống), gạo muối thẩy lên nóc và xung quanh chuồng, giấy tiền vàng bạc đốt hoặc dán vào cột chuồng (dán vào sừng trâu, bò nếu đang nuôi trong chuồng), còn lễ vật thì gia chủ mang vào nhà sử dụng.

Có thể thấy rằng, tín ngưỡng ông Chuồng bà Chuồng là hình thức cầu cho sức khỏe các vật nuôi trong nông nghiệp, là nét đẹp trong phong tục dân gian hàm chứa nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. Trong xã hội ngày nay, với nhiều tiến bộ khoa học trong chăn nuôi nhưng nhiều người dân ở nông thôn vẫn còn thực hành tín ngưỡng ông Chuồng bà Chuồng với quan niệm, hình thức nghi lễ hàm chứa sự biết ơn của người nông dân đối với những thế lực siêu nhiên đã phù trợ họ vượt qua khó khăn, rủi ro trong đời sống và sản xuất, chăn nuôi.

 

Đ.V.N

 
     
  Cộng tác viên ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • Chấp nhận! (29/05/2019)

  • NGOẠI TÔI (29/05/2019)


  • CHỊ TƯ THÔNG (29/05/2019)









  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |