Thứ Hai, ngày 28 tháng 9 năm 2020        
     
 
   Tác phẩm
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  07/05/2015  
  Ngày Tết, tản mạn về đôi đũa ăn trong đời sống dân gian  
  Khó ai xác định đôi đũa ăn có từ khi nào nhưng có thể xác nhận đôi đũa ăn xuất hiện ở những nơi chuyên trồng cây lúa nước như Việt Nam từ rất sớm. Sở dĩ gọi là đôi đũa ăn vì nó được dùng riêng cho từng người trong suốt bữa ăn, nhất là trong bữa cơm hàng ngày.   
 
 

.

Khó ai xác định đôi đũa ăn có từ khi nào nhưng có thể xác nhận đôi đũa ăn xuất hiện ở những nơi chuyên trồng cây lúa nước như Việt Nam từ rất sớm. Sở dĩ gọi là đôi đũa ăn vì nó được dùng riêng cho từng người trong suốt bữa ăn, nhất là trong bữa cơm hàng ngày. Gọi là đôi đũa ăn còn là cách phân biệt với loại đũa bếp (dùng để bới cơm từ nồi ra chén) hay với đũa gắp lửa (dùng trong điều chỉnh lượng tro, than, củi trong bếp chụm củi)... Sau này, khi điện dùng cho sinh hoạt ở nông thôn ngày một phổ biến thì nhiều bà con chuyển sang dùng vá hay muỗng múc cơm từ nối ra chén; nhiều người dùng bếp dầu, bếp gas thay cho bếp củi nên đôi đũa gắp lửa cũng dần bị lãng quên. Chỉ có đôi đũa ăn là vẫn nguyên giá trị của nó và được gọi với một tên mới ngắn gọn hơn: đôi đũa.

Để làm đôi đũa ăn, người dân quê đã tận dụng ngay loại vật liệu sẵn có rất nhiều ở quanh nhà là các loại tre. Dù là tre mỡ, tre gai hay tre tàu... miễn là tre già, thịt tre dầy (nhất là lóng ở gần gốc tre), lóng tre thẳng, dài cỡ hai tấc rưỡi trở lên là có thể dùng làm đũa ăn. Từ lóng tre tươi đã cắt bỏ hai mắt tre ở hai đầu, người ta dùng mác (loại dụng cụ có lưỡi thép bén như dao, mũi nhọn hoặc bầu và có cán dài gấp ba, bốn lần phần lưỡi, được dùng phổ biến ở nông thôn để chuốt, vót, chẻ hay chặt tre) chẻ theo chiều dọc của lóng tre ra thành từng thẻ tre mỗi cạnh tương đối vuông góc nhau và bằng nhau. Đến đây, có người sẽ dùng lạt tre buộc thẻ tre thành từng bó ngâm xuống mương hay ao nhà gần một tháng để tránh mọt ăn sau này, có người lại tiến hành vót đũa ăn ngay. Mỗi thẻ tre sẽ được vót thành một chiếc đũa hình trụ dài gần ba tấc, lớn gần bằng nửa ngón tay út, thân đũa được chuốt bóng láng, đầu đũa cầm hơi lớn hơn và nhỏ dần về phía đầu đũa ăn. Tùy từng gia đình, đũa ăn thường được người dàn ông trong nhà vót lúc nông nhàn hoặc vào dịp gần Tết Nguyên đán. Trong thực tế, đôi đũa ăn có thể làm bằng gỗ, bằng bạc, bằng nhôm hay sau này có khi làm bằng nhựa... nhưng đũa tre vẫn được dùng phổ biến nhất nhờ sức bền và tính tiện dụng của nó.

Trong cuộc sống hàng ngày, đôi đũa ăn hiện diện trong mỗi gia đình từ nông thôn ra thành thị, từ nhà giàu đến nhà nghèo. Ở làng quê Việt Nam, khi chuẩn bị cho bữa cơm gia đình, những đứa trẻ thường bắt đầu phụ giúp với người lớn bằng việc dọn chén, đũa ra bàn ăn (hoặc chiếu ăn). Phải biết cầm nắm đũa ăn, dựng đầu đũa cầm xuống mặt bàn để chọn ra hai chiếc đũa đều nhau về kích cỡ (so đũa), đặc biệt chú ý về chiều cao rồi lấy chúng ra, để ngay ngắn trên bàn, ở vị trí dự kiến sẽ để chén cơm và có một thành viên trong nhà ngồi ăn, đầu đũa ăn phải quay vào phía giữa bàn.

Sau khi cơm được bới ra chén, để cạnh đôi đũa lúc nãy, người phụ nữ làm công việc nấu ăn hoặc người nhỏ tuổi trong bàn mời những người lớn tuổi cầm đũa ăn trước rồi tới lượt mình. Trong bữa ăn, người nhỏ tuổi hay con cháu thường chú ý gắp cá, thịt hay thức ăn ngon vào chén cho ông bà, cha mẹ, đồng thời hỗ trợ luôn phần bới cơm vào chén cho các trưởng bối có mặt trong bữa ăn. Trong mâm cơm gia đình ấy, mỗi người ăn có thể dùng đũa khéo léo gắp thức ăn, chia thức ăn, và cơm, vét cơm... để phục vụ cho bản thân mình và hỗ trợ cho người khác cùng ăn. Muốn các thao tác cầm đũa nhuần nhuyễn, trẻ em trong nhà được tập cầm đũa ăn sao cho đúng, cho khéo ngay từ nhỏ.

 Không chỉ ở những bữa cơm gia đình, đôi đũa ăn cũng xuất hiện khắp các bữa tiệc cưới, hỏi, cúng giỗ, ma chay... của người Việt. Trong các bữa tiệc chiêu đãi sang trọng ở thành thị hiện nay, người ta thấy đã bắt đầu xuất hiện một số dụng cụ ăn uống của người phương Tây như thìa, nĩa, dao... Tuy nhiên, cứ hễ có cái chén ăn cơm xuất hiện thì bên cạnh đó sẽ có đôi đũa ăn đi kèm.

Ở các tiệc cưới, đôi đũa ăn còn được sử dụng một cách trang trọng hơn. Lúc này, từng đôi đũa một, sau khi rửa sạch, phơi khô, người ta xếp chúng vào một bao giấy trắng muốt và có thể kèm câu chúc quý khách ngon miệng in dọc theo chiều dài của bao giấy. Trước khi bữa tiệc bắt đầu, đũa và chén được xếp cạnh nhau theo từng vị trí mà thực khách sẽ ngồi, tạo thành hoa văn đẹp mắt cho bàn ăn khi nhìn từ trên cao xuống. Thực khách sẽ dùng chính cái bao giấy này như một chiếc khăn lau nhỏ để lau chùi đôi đũa trước khi dùng tiệc.

Song song với việc dùng đôi đũa ăn trong đời thường hay trong dịp hỷ sự, đôi đũa ăn vẫn luôn song hành với chén cơm cúng cho người vừa mất, cho việc cúng giỗ cũng như nhiều hoạt động cúng tế khác có dùng đến chén ăn cơm. Riêng với đời sống tâm linh, việc sử dụng đôi đũa ăn cũng có nhưng kiêng kỵ nhất định tùy theo vùng, miền. Chẳng hạn, nhiều người dân ở miền Bắc quan niệm rằng tập hợp tất cả các đôi đũa ăn trong nhà như một đàn con, xung quanh hai trụ cột của gia đình (cha và mẹ) là hai chiếc đũa bếp (dùng để bới cơm - như đã nói trên). Do ước muốn sum họp cả nhà (cha mẹ với con cái) nên họ vót đũa (hay mua đũa) thì mua cả bộ gồm đôi đũa bếp và một vài chục đũa ăn. Còn nhiều bà con ở Đồng Tháp (Nam bộ) lại xem sự gắn kết giữa các đôi đũa ăn là sự đoàn kết giữa các anh em trong nhà. Do đó, nếu lỡ làm gãy một chiếc đũa thì họ đem luôn chiếc đũa còn lại chụm vào bếp để tránh anh em bất hòa, cự cãi hay mâu thuẫn nhau. Thậm chí, có nhiều người còn bẻ gãy đôi đũa ăn để thề thốt nặng lời cho một số việc mà họ khẳng định như thế là chắc chắn...

Rõ ràng, đôi đũa ăn được dùng rất rộng rãi trong cuộc sống của nhân dân ta từ xưa đến nay. Từ đó, đôi đũa ăn cũng đi vào nhiều ngóc ngách của văn nghệ dân gian.

Thuở còn nhỏ, nghe kể các truyện cố tích, ngụ ngôn là một thú đam mê của nhiều trẻ em. Trong Sự tích trầu cau, việc dùng một chén cháo, một đôi đũa để tìm lời giải ai là anh, ai là em giữa hai người con trai họ Cao là một phép thử thú vị. Hay như ở Câu chuyện bó đũa, ai cũng thấm thía với giá trị của sức mạnh đoàn kết: từng chiếc đũa yếu ớt sẽ có sức mạnh vô song khi chúng biết hợp sức lại thành bó đũa.

Trong ca dao, tục ngữ, hình ảnh đôi đũa ăn cũng lấp lánh trong nhiều tác phẩm. Chẳng hạn, khi nói về người không phân biệt đúng sai, cao thấp, ông bà ta có câu: Vơ đũa cả nắm. Lúc phân tích về sự lợi hại, câu tục ngữ: Vợ dại không hại bằng đũa cong buộc người ta phải cân nhắc lại vấn đề. Hoặc giả, để bàn về vấn đề kinh nghiệm sống, ông bà ta cũng có câu: tre già, đũa tốt.

Ở góc độ khác, sự cân bằng, tương xứng giữa hai chiếc đũa trong đôi đũa cũng làm người ta liên tưởng đến sự xứng lứa vừa đôi giữa nam và nữ: Đôi ta là bạn thong dong; Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng. Hoặc giả, sự phân biệt giai cấp, sang hèn, sự chênh lệch về tuổi tác, sắc vóc giữa nam và nữ... làm cho người ta liên tưởng đến đôi đũa lệch, đũa mốc: Bây giờ chồng thấp vợ cao; Như đôi đũa lệch so sao cho bằng hay: Xứng đôi vừa lứa, chọn nơi; Hay gì đũa mốc đòi chòi mâm son. Cũng có khi, trong lời hát ru ngầm trách cứ xa xôi cũng thấp thoáng hình ảnh chén cơm, đôi đũa kiểu như: Chim đa đa đậu nhánh đa đa; Chồng gần không lấy đi lấy chồng xa; Một mai cha yếu mẹ già; Chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dưng.

Như vậy, đôi đũa ăn từ chỗ chiếm được một địa vị quan trong trong đời sống hàng ngày đã dần dần ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống dân gian ở Việt Nam xưa nay. Chưa hết, cứ mỗi khi xuân về Tết đến, đôi đũa ăn còn tạo nên những nét văn hóa riêng cho bữa cơm đầm ấm ngày xuân ở từng gia đình.

Rõ ràng, dù mức độ đô thị hóa hiện nay có nhanh đến mấy, dù bữa cơm gia đình đã có nhiều thay đổi, dù ăn Tết sum vầy cùng gia đình hay đang hưởng cái Tết xa quê, hầu như đôi đũa ăn vẫn còn hiện diện trong các bữa cơm như một bằng chứng cụ thể về sức sống của văn hóa Việt. Ất Mùi - 2015 đang đến thật nhanh. Đó đây, khắp chợ cùng quê, mấy cái xe đạp chở thúng đũa ăn phía sau hối hả rao, mời: Tre già đũa tốt đây!... như làm rộn lên chút hồn quê lai láng trong những ngày Xuân về Tết đến.

 

                                                                                                                          .
 
     
  Hậu Nghệ ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • RẠCH BÀU HÚT (18/09/2020)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |