Thứ Năm, ngày 2 tháng 7 năm 2020        
     
 
   Ca cổ
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  14/04/2014  
  BA BÀI NAM TRONG TÀI TỬ, CẢI LƯƠNG  
  Được xếp trong hệ thống hai mươi bài tổ của ca nhạc tài tử, cải lương Nam bộ, ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo hay Đảo Ngũ Cung có những đặc điểm rất độc đáo của riêng mình. Không giống các bài Bắc, Lễ, Oán, tương đối thuần chất với nhau khi được xếp chung thành một họ thì ba bài Nam, mỗi bài có một sắc thái, nhịp độ rất riêng biệt, thang âm và điệu thức cũng không giống nhau. Cách sử dụng các bài này trong đờn ca tài tử hay biểu diễn tuồng tích cải lương cũng rất phong phú, linh hoạt.   
 
 

BA BÀI NAM TRONG TÀI TỬ, CẢI LƯƠNG (*)

 

THANH HÀ

         

Được xếp trong hệ thống hai mươi bài tổ của ca nhạc tài tử, cải lương Nam bộ, ba bài Nam gồm: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo hay Đảo Ngũ Cung có những đặc điểm rất độc đáo của riêng mình. Không giống các bài Bắc, Lễ, Oán, tương đối thuần chất với nhau khi được xếp chung thành một họ thì ba bài Nam, mỗi bài có một sắc thái, nhịp độ rất riêng biệt, thang âm và điệu thức cũng không giống nhau. Cách sử dụng các bài này trong đờn ca tài tử hay biểu diễn tuồng tích cải lương cũng rất phong phú, linh hoạt. Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn được cùng trao đổi, nghiên cứu về vấn đề xuất xứ, cấu trúc âm nhạc và việc sử dụng ba bài Nam trong đờn ca tài tử và trong tuồng cải lương. Hy vọng những điều được chia sẻ sẽ đem lại những lợi ích thiết thực cho những người yêu mến bộ môn này cũng như cho những người nghiên cứu, sáng tác muốn tìm hiểu sâu đối với các vấn đề mang tính bài bản.

Nguồn gốc của ba bài Nam:

Âm nhạc Việt Nam ngay từ xưa đã có sự ảnh hưởng các âm điệu phương Nam của dân tộc Chiêm Thành. Năm 1060, Vua Lý Thánh Tông đã tạo nên một loại âm nhạc riêng dựa vào các tiết điệu của nhạc Chiêm Thành cho nhạc công cung đình. Đến năm 1202 Vua Lý Cao Tông đã ra lệnh chế khúc nhạc Chiêm Thanh, tức là âm thanh của người Chiêm, bài này âm điệu thanh thoát, bi ai, khiến người nghe xúc động khôn tả. Như vậy cùng với điệu Bắc, còn gọi là điệu Khách có nguồn gốc từ âm nhạc Trung Quốc thì điệu Nam xuất hiện khi người Việt tiếp cận với văn hóa, âm nhạc của người Chăm. Theo học giả Thái Văn Kiểm dẫn lời cụ Ưng Bình Phúc Giạ Thị trong sách Cố đô Huế thì chính chúa Minh Tộ Quốc Công, tức là chúa Nguyễn Phúc Chu là người sáng tác bài Ai Giang Nam, chính là bài Nam Ai khoảng vào đầu thế kỷ XVIII. Tác giả Ưng Bình Thúc Giạ Thị trong sách Bán buồn mua vui đã viết về đặc điểm của ca Huế như sau: “Điệu ca Chiêm Thành rất ai oán, trong sử đã nói ca Huế là khúc ca Nam, thời Nam Bình. Nam Ai quả là phổ theo thanh điệu Chiêm Thành mà làm ra, không nghi nữa”. Bài Nam Ai, Nam Bình là hai bài phổ biến và đặc sắc của ca Huế. Trong đó, Nam Ai tuy giai điệu đượm nỗi buồn nhưng không đến nỗi bi lụy, não nuột như điệu Oán. Còn Nam Bình có lời cổ nhất là bài Tình phân ly nói về công chúa Huyền Trân, giai điệu cũng hơi buồn nhưng có phần tươi tắn hơn, tao nhã hơn.

Từ tinh hoa âm nhạc cung đình các triều đại Lý, Trần, Lê…, triều Nguyễn đã phong phú hóa, điển chế hóa trở thành âm nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận di sản phi vật thể của thế giới. Những người lưu dân Nam bộ đã mang theo âm nhạc này vào các cuộc tế lễ, hội hè, hôn nhân, tang chế… Tuy nhiên, thứ âm nhạc đó ở một nơi xa xôi với triều đình mà lại gần gũi với quần chúng nhân dân tất nhiên phải có những thay đổi, những thích nghi nhất định. Sự thay đổi đó trước hết bắt đầu từ việc thay đổi biên chế dàn nhạc từ dàn nhạc lễ đầy đủ, ầm ỉ khi cúng kiến gồm cả trống, thanh la, chập chỏa của bộ gõ và kèn của bộ hơi đến chỉ sử dụng đàn cò, đàn gáo (nhạc cụ kéo)… và đàn kìm, đàn sến, đàn tranh (nhạc cụ khảy)… hay những nhạc cụ chế từ nhạc cụ phương Tây như ghi - ta phím lõm, măng - đô - lin phím lõm, vi - ô - long… Kế tiếp là việc sáng tác thêm bài bản, làn điệu và lời ca để đàn và hát lên, thể hiện tâm tư, ước vọng của những người đi mở cõi.

Đất Nam bộ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX rất thuận lợi cho việc phát triển âm nhạc vì ruộng đất cò bay thẳng cánh, phì nhiêu, mầu mỡ, tôm cá đầy sông, vì lòng yêu nuớc hãy còn ngất cao trời xanh nhưng phải tạm thời lắng đọng vì sự thất bại của phong trào Cần Vương, vì con người hào phóng, khoan dung, bình đẳng, chân tình và nhất là ham mê đờn ca xướng hát, vì đã trở thành thuộc địa của Pháp, không còn ràng buộc bởi luật lệ triều đình nữa... Tuy nhiên, âm nhạc cổ truyền Việt Nam có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, từ ca Huế là một loại âm nhạc khó phổ biến một cách phổ thông vì tính chất bác học, thâm sâu, căn cơ, bài bản của nó. Do đó, cho đến lúc ba nhạc sư gốc miền Trung là Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại), thầy ký Quờn (Trần Quang Quờn) và Nhạc Khị (Lê Tài Khị) vào Nam truyền bá Nhạc cổ truyền thì các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa mới hội tụ đủ để phát triển thành một dòng nhạc mới tồn tại đến tận ngày nay.

Nhạc sư Ba Đợi, quê ở Quảng Trị, vốn là một nhạc quan của triều đình nhà Nguyễn. Ông vào miền Đông Nam bộ năm 1885 do hưởng ứng hịch Cần Vương. Tại đây ông bắt đầu truyền dạy bài bản nhạc cổ truyền và bổ sung những thiếu sót của nhạc lễ miền Nam. Nhưng quan trọng nhất là ông đã giản dị hóa, sáng tạo, cải biên các bài bản của ca Huế thành những bài bản phù hợp với tính tình chất phác, khoan dung, độ lượng và bộc trực của những người nông dân Nam bộ trong cảnh nông nhàn. Những đệ tử của ông không lâu đã lan ra rộng khắp cả hai miền Đông, Tây Nam bộ, tạo nên phong trào đờn ca tài tử.

Chính nhạc sư Ba Đợi đã lấy bài Nam Ai của ca Huế cải biên thành bài Nam Ai của nhạc tài tử Nam bộ. Bài Nam Ai này có nhiều khác biệt với cái gốc của nó. Điệu nhạc trở nên buồn thảm, nức nở, bi ai, nhất là có thêm hai lớp Mái Ai.

Còn điệu Nam Xuân được nhạc sư cải biên từ điệu Nam Xuân, một biến thể của điệu Nam Bình trong ca Huế. Nam Xuân chỉ hơi thoáng buồn, có tính thanh thản, ung dung, nhẹ nhàng, nhiều khi có cảm giác du dương, nghiêm trang.

Và ông Ba Đợi đã sáng tác ra một bài mới hoàn toàn. Đó chính là bài Đảo Ngũ Cung mà bây giờ có khi gọi là bài Nam Đảo. Bài này có sự phối hợp giữa hơi Xuân, hơi Bắc và hơi Dựng, tạo nên tính chất tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Nhưng khi chuyển sang lớp Song Cước thì lại trở buồn.

Từ đó, ba bài Nam góp phần hình thành nên 20 bài tổ và cùng với 8 bài Ngự đã làm cho nhạc tài tử có đủ bốn điệu Bắc, Hạ, Nam, Oán, bốn hơi Xuân, Ai, Đảo, Ngự và hòa vào dòng chảy chung mà đi vào ca ra bộ cũng như sân khấu cải lương sau này.

Cấu trúc âm nhạc của ba bài Nam:

Trước hết, xét về thang âm, điệu thức thì ba bài Nam được xây dựng trên những hệ thống rất khác nhau. Tất nhiên điệu thức của ba bài này đều dựa trên hệ thống ngũ cung nhưng thực sự không cùng một loại. Nếu điệu thức Bắc của các bài Bắc, Lễ là thống nhất theo năm âm: Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, tương đương Đồ, Rê, Pha, Son, La nếu lấy Hò bằng Đô  hoặc Sòn, La, Đô, Rê, Mi nếu lấy theo Hò tư, Hò bằng Son, thì các bài Nam có điệu thức như sau:

Bài Nam Xuân dựa trên năm âm Hò, Xự, Xang, Xê, Phan, trong đó âm Phan còn được gọi là Oan cao hơn âm Cống nửa cung, tương đương Đồ, Rê, Pha, Sol, Si giáng ở Hò nhất hoặc Sòn, La, Đô, Rê, Pha ở Hò Tư. Trong đó, âm Hò được cố định, không sử dụng kỹ thuật rung, vỗ, trừ những chỗ ngân dài thì đẩy lên Xự như rung rồi trả về Hò như vỗ. Âm Xự, Xê phải rung nhẹ. Âm Xang là âm bắt đầu của bài. Khi diễn tấu âm Xang thường được vuốt lên âm Xê, có thể lên cao hơn một chút gọi là âm Xế rồi mới trở về Xang tạo ra nét đặc trưng của hơi Xuân.

Còn bài Nam Ai lại dựa trên năm âm Hò, Y, Xang, Xê, Cống, trong đó âm Y còn được gọi là Xư cao hơn âm Xự nửa cung, tương đương Đồ, Mi giáng, Pha, Son, La ở Hò nhất hoặc Sòn, Si giáng, Đô, Rê, Mi ở Hò Tư. Trong đó âm Hò phải rung khi diễn tấu, âm Y và âm Xê phải vỗ, âm Cống không rung, không vỗ. Bài này cũng bắt đầu bởi âm Xang nhưng cách diễn tấu âm này thì khác hẵn vì lúc đầu thì dùng kỹ thuật rung rồi vuốt nhẹ lên âm Xê nhưng lại không trở về Xang.

Đối với bài Nam Đảo, có người cho rằng được tạo nên bởi hơi Xuân, hơi Bắc và hơi Dựng. Trong đó hơi Dựng là loại hơi trung gian giữa Bắc và Nam, giữa vui và buồn. Về mặt diễn tấu, một bài thuộc hơi Bắc nhưng sử dụng kỹ thuật của hơi Nam như Hò, Xang sử dụng kỹ thuật rung, Xê lại dùng cách vỗ, tức là mượn cách rung thì thuộc về hơi Dựng. Trong trường hợp bài Nam Đảo chính là dựa trên năm âm của điệu thức Bắc: Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, được mượn cách rung của hơi Nam trong đó hai âm Xự và Xê rung. Đồng thời có sự chuyển điệu với sự xuất hiện của các âm Y, Phan. Trong đó ở 6 lớp đầu có âm Phan và 2 lớp Song Cước có âm Y. Bài này có tên là Đảo Ngũ Cung là vì mỗi âm trong thang âm đều có thể trở thành âm chủ tức là thay đổi các dạng ngũ cung một cách lần lượt. Bài Nam Đảo bắt đầu và chấm dứt bằng âm Xang.

Về mặt cấu trúc, cả ba bài có đặc điểm chung là được chia ra làm nhiều lớp, nhiều câu. Trong đó có nhiều câu được lặp lại một cách nguyên vẹn giữa các lớp, nhiều lớp là sự lặp lại của một lớp trước đó. Về nhịp các câu lẻ của ba bài Nam đều kết ở nhịp nội trong khi các câu chẵn kết ở nhịp ngoại. Một điểm giống nhau và khác với nhiều các bài bản khác là không có chầu hay trong ba bài Nam. Trong đó, chầu là đoạn nhạc láy cuối câu hát, ngắn nhất là một nhịp rưỡi. Còn là đoạn nhạc đầu câu nhạc cũng có độ dài ngắn nhất một nhịp rưỡi. Cả ba đều có rao trước khi vào bài tức là một đoạn nhạc do nhạc công diễn tấu một cách ngẫu hứng nhằm chuẩn bị cho người ca biết giọng trước khi cất tiếng hát.

Bài Nam Xuân có 9 lớp, 68 câu tổng cộng, từ lớp 1 đến lớp 4 mỗi lớp 8 câu, đến 2 lớp đặc biệt gọi là Lớp Trống Xuân 1 và 2 (lớp 5 và 6), rồi tiếp lớp 7, 8 mỗi lớp 8 câu và cuối cùng là lớp 9: 4 câu. Trong đó, Lớp 3 có nhiều câu trùng với các lớp trước như câu 17, 18 trùng với câu 1, 2 của lớp 1, các câu còn lại từ 19 đến 24 cũng trùng các câu 7, 8 của lớp 1 và các câu 9, 10, 11, 12 của lớp 2. Lớp 9 có 4 câu trùng với 4 câu đầu của lớp 3 cũng có nghĩa là trùng với các câu 1, 2 và 7, 8 của lớp 1. Lớp 4 chính là sự lặp lại  của lớp 1. Các lớp 7 và 8 là sự lặp lại của các lớp 1 và 2. Nam Xuân được chơi theo nhịp tư, với nhịp độ vừa phải, có phần chậm rãi, gõ song loan vào nhịp 3 và nhịp 4 mỗi câu. Các lớp 1, 2, 4, 7, 8, 9 dứt bằng âm Liu (âm Hò cao hơn quảng 8), chỉ riêng lớp 3 dứt bằng âm Xang và 2 lớp Trống Xuân (lớp 5, 6) dứt bằng âm Xàng, tất cả đều dứt lớp ở nhịp ngoại. Hai lớp Trống Xuân có sự chuyển điệu từ hơi Xuân qua hơi Dựng với 2 câu kết lớp giống nhau (câu 40 và câu 48 giống nhau). Khi chơi đến 2 lớp Trống Xuân thì tốc độ sẽ được tăng nhanh hơn rồi đến lớp 7 thì quay trở lại tốc độ ban đầu.

Bài Nam Ai có 10 lớp, tổng cộng 84 câu nếu tính luôn 4 câu Phản Xuân qua Ai. Từ lớp 1 đến lớp 6 mỗi lớp 8 câu, lớp 4 còn được gọi là lớp ngăn. Lớp 5, 6 chính là sự lặp lại lớp 2 và lớp 3. Lớp 7 và 8 là 2 lớp Mái Ai 1 và Mái Ai 2. Lớp 9 và 10 là sự lặp lại của 2 lớp 1 và 2. Câu 11, 12 lớp 2 trùng với câu 3 và 4 của lớp 1. Các câu 13,14,15,16 của lớp 2 trùng với 4 câu Phản Xuân…  Nam Ai được chơi với tốc độ chậm hơn so với Nam Xuân, cũng theo nhịp tư và nhịp 3, 4 gõ song loan mỗi câu. Có sự thay đổi tuần tự giữa nhịp nội và nhịp ngoại, câu lẻ dứt nhịp nội và câu chẵn dứt nhịp ngoại. Mở đầu và kết thúc đều bằng âm Xang, nhịp ngoại. Lớp Mái Ai còn được gọi là Trống Ai vì ở lớp này có tiếng trống cơm nổi lên tô điểm cho âm nhạc của bài. Tốc độ khi đàn đến hai lớp Mái Ai vẫn được giữ nguyên không thay đổi. Câu cuối 2 lớp Mái Ai giống nhau (câu 56 và câu 64).


Bài Nam Đảo có 8 lớp, 67 câu nếu tính cả 4 câu Phản Xuân qua Đảo (4 câu này còn gọi là Phản Ai qua Đảo hay 4 câu Gối). Ngoài các lớp từ 1 đến 6, mỗi lớp 8 câu còn có 2 lớp Song Cước 15 câu (lớp Song Cước 1 có 8 câu, lớp Song Cước 2 có 7 câu). Lớp 6 giống lớp 2, chỉ khác câu cuối tức là câu 48 dùng chuyển sang hơi Ai Oán để vào 2 lớp Song Cước. Hai câu 39, 40 của lớp 5 và 2 câu 41, 42 của lớp 6 trùng với 2 câu 37, 38 của lớp 5. Lớp 1 dứt bằng âm Liu, lớp 2 dứt âm Xê, lớp 3 dứt âm Xang, lớp 4 dứt âm Ú, lớp 5, 6 dứt âm Liu. Lớp Song Cước có sự chuyển điệu trở lại hơi Ai Oán và được chuyển từ dây Hò tư (dây Đào) sang dây Hò nhất (dây Kép) khiến cho âm điệu trở nên mới mẻ, hấp dẫn, ngoạn mục. Hai lớp Song Cước kết bằng âm Xàng. Chỉ riêng Song Cước lớp 2 dứt bằng nhịp nội song loan, còn các lớp khác dứt bằng nhịp ngoại. Các lớp đều tuân thủ quy luật câu chẵn kết nhịp nội câu lẻ dứt nhịp ngoại. Do đó, vì lớp Song cước 2 chỉ có 7 câu nên dứt ở nhịp nội. Hai lớp Song Cước này là do Nhạc sĩ Chín Chiêu và Nhạc sĩ Sáu Thoan ở Cần Đước sáng tác.


Do ba bài Nam khác nhau về hơi, tính chất và tốc độ diễn tấu nên khi chuyển từ bài này sang bài kia phải có sự chuẩn bị để đổi hơi và đổi nhịp. Sự chuẩn bị này nằm ở 4 câu gọi là 4 câu phản. Từ Nam Xuân sang Nam Ai gọi là Phản Xuân, từ Nam Ai sang Nam Đảo gọi là Phản Ai (nhưng thường chỉ gọi là 4 câu Phản). Phản có nghĩa là ngược lại trước là Xuân hơi vui, hơi nhanh thì sau là Ai buồn, chậm rồi sau là Đảo trở lại nhanh và không buồn nữa. Bốn câu Phản thuộc về bài sau chứ không thuộc về bài trước. Đây cũng là điểm đặc biệt của ba bài Nam vì không có bài nào trong hệ thống bài bản đờn ca tài tử có các câu Phản này. Câu 48 thuộc lớp 6 bài Nam Đảo cũng có tính chất phản này để dẫn về hơi Ai Oán và đổi dây cho 2 lớp Song Cước.

Việc sử dụng ba bài Nam trong tài tử, cải lương:

Trong thời gian cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khi chơi 3 bài Nam thì phải đờn suốt 239 câu theo công thức:

Nam Xuân 68 câu: lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp 3: 8 câu + lớp 4: 8 câu  + lớp 5: Trống Xuân 1: 8 câu + lớp 6: Trống Xuân 2: 8 câu + lớp 7: 8 câu + lớp 8: 8 câu + lớp 9: 4 câu.

Rồi đến Nam Ai 84 câu: Phản Xuân qua Ai: 4 câu + lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp 3: 8 câu + lớp 4: 8 câu (lớp Ngăn) + lớp 5: 8 câu + lớp 6: 8 câu + lớp 7: Mái Ai 1: 8 câu + lớp 8: Mái Ai 2 (Mái Chạy): 8 câu + lớp 9: 8 câu + lớp 10: 8 câu.

Đến đây trở lại chơi 20 câu trong bài Nam Xuân gồm: lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp: 4 câu đầu.

            Cuối cùng chuyển sang Nam Đảo 67 câu: Phản Ai sang Đảo 4 câu (câu Gối) + lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp 3: 8 câu + lớp 4: 8 câu  + lớp 5: 8 câu + lớp 6: 8 câu + lớp 7: Song Cước 1: 8 câu + lớp 8: Song Cước 2: 7 câu.

Còn khi đờn riêng lẻ từng bài thì bài Nam Xuân chơi đủ 68 câu, bài Nam Đảo chơi đủ 67 câu nhưng Nam Ai thì có thể chơi 84 câu hoặc 67 câu, gồm 4 câu Phản Xuân sang Ai nhưng không có lớp 9, lớp 10 và lớp 8 tức Lớp Mái Ai 2 không chơi câu cuối tức câu 64.

Ngày nay vì các bài Nam dài mà có sự trùng lắp giữa các lớp, các câu nên người ta thường có khuynh hướng rút gọn theo các phương án như sau:

Nam Xuân chơi 48 câu theo công thức: lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8câu + lớp 3: 8 câu + lớp 4: 8 câu + lớp Trống Xuân 1: 8 câu + lớp Trống Xuân 2: 8 câu.

Nam Xuân chơi 20 câu theo công thức: lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8câu + lớp 3: 4 câu đầu.

Nam Xuân chỉ chơi 2 lớp Trống Xuân 15 câu theo công thức: lớp Trống Xuân 1: 8 câu + lớp Trống Xuân 2: 7 câu.

Nam Ai 43 câu theo công thức: Phản Xuân: 4 câu + lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp 3: 8 câu + lớp Mái Ai 1: 8 câu + lớp Mái Ai 2: 7 câu.

Nam Ai 31 câu theo công thức: lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp 7: Mái Ai 1: 8 câu + lớp 8: Mái Ai 2: 7 câu.

Nam Ai 15 hoặc 16 câu theo công thức: lớp 1: 8 câu + lớp Mái 1: 8 câu hoặc lớp Mái 2: 7 câu.

Nam Ai chỉ chơi 2 lớp Mái 15 câu theo công thức: lớp Mái 1: 8 câu + lớp Mái 2: 7 câu.

Nam Ai 12 câu theo công thức: Phản Xuân: 4 câu + lớp 1: 8 câu.

Nam Đảo chơi 52 câu theo công thức: Phản: 4 câu + lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu + lớp 3: 8 câu + lớp 4: 8 câu + lớp 5: 8 câu + lớp 6: 8 câu.

Nam Đảo chơi 20 câu theo công thức: Phản: 4 câu + lớp 1: 8 câu + lớp 2: 8 câu

Nam Đảo chơi 12 câu theo công thức: Phản 4 câu + Lớp 1, 8 câu

Nam Đảo chơi riêng 2 lớp Song Cước 15 câu theo công thức : lớp Song Cước 1: 8 câu + lớp Song Cước 2: 7 câu.

Và còn có thể có các phương án chơi rút gọn khác.

Từ đó có thể hình thành cách chơi Liên Nam rút gọn còn 39 câu như: Nam Xuân 8 câu (lớp 1) + Nam Ai 12 câu (Phản Xuân + lớp 1) + Nam Đảo 12 câu (Phản + lớp 1) + Song Cước Lớp 2: 7 câu.

Hoặc Liên Nam chỉ với 32 câu bao gồm: Nam Xuân 8 câu (lớp 1) + Nam Ai 12 câu (Phản Xuân + lớp 1) + Nam Đảo 12 câu (Phản + lớp 1).

Liên Nam 28 câu gồm: Nam Xuân 8 câu (lớp 1) + Nam Ai 8 câu (lớp 1) + Nam Đảo 12 câu (Phản + lớp 1).

Còn một phương án kết nối đặc biệt gọi là Liên Nam Cổ Khúc gồm 29 câu có cấu trúc như sau: 2 câu Gối hơi Ai dây Hò tư + lớp Mái Ai 2: 7 câu + 2 câu Phản Xuân (câu 1: hơi Ai dây Hò tư + câu 2: trở hơi Xuân dây Hò tư) + lớp Trống Xuân 1: 8 câu + 2 câu Phản Ai (câu 1: hơi Xuân, dây Hò tư + câu 2: trở hơi Ai, dây Hò nhứt) + lớp Song Cước 2 dây Hò nhứt, 7 câu.

Trong một buổi đờn ca tài tử ngày xưa các bài Nam thường được chơi ở giữa buổi theo thứ tự Nam Xuân, Nam Ai rồi đến Nam Đảo, sau các bản thuộc điệu Bắc, Quảng, Hạ và trước các bản thuộc hơi Oán, Ai Oán và Vọng cổ. Trong cải lương thì ba bài Nam thường không thiếu trong các kịch bản vì sự diễn tả phong phú đối với kịch tình và tính cách nhân vật. Tuy nhiên vì yêu cầu phục vụ việc biểu diễn tuồng tích, kịch bản nên các bài Nam thường được sử dụng một cách ngắn gọn, tốc độ có thể nhanh hơn để đảm bảo tính xung đột, hành động của vở diễn. Do đó, Nam Xuân trong Cải lương thường sử dụng ở dạng rút gọn 8 câu lớp 1, 15 câu 2 lớp Trống Xuân; Nam Ai 8 câu lớp 1 hoặc 15 câu Mái Ai; Nam Đảo 12 câu gồm 4 câu Phản và 8 câu lớp 1; Song cước 15 câu…

Về nội dung của ba bài Nam, phụ thuộc vào tính chất của từng bài mà cách đặt lời ca có khác nhau. Bài Nam Xuân có tính chất du dương, nghiêm trang, nhẹ nhàng, ung dung có thoáng đượm buồn man mác nên thường được sử dụng trong lúc vui lâng lâng, tự sự, thong thả, nhàn hạ… Bài Nam Ai lại nghe buồn thảm, tỉ tê, ảo não thường sử dụng để diễn tả cảnh tử biệt, sinh ly, hoàn cảnh đau khổ, tuyệt vọng… Còn bài Nam Đảo mang tính tôn nghiêm, khẳng định, hùng mạnh có thể dùng trong lúc cãi vã, đối đáp, tranh luận, gay gắt, trả treo.

Đối với tài tử thì nội dung bài ca thường dựa vào thơ ca truyền thống, những điển tích đạo lý, trung hiếu, tiết hạnh, anh hùng. Lời bài ca ít chữ để người ca dễ luyến láy đưa hơi. Còn lời ca trong cải lương thì nặng tính hành động, xung đột, đối đáp, nhiều chữ để diễn đạt tâm tình, hoàn cảnh nhân vật.

Khi trình diễn tài tử, ba bài Nam thường là rao trước rồi ca sau, phong cách chân chất, tri âm, tri kỷ mang tính thính phòng, âm nhạc tinh tế, vi diệu, chủ yếu là để nghe. Còn trong cải lương, thường là diễn viên ca trước, dàn nhạc bắt theo sau, mang tính chất linh hoạt, ứng biến, quăng bắt, chủ yếu là để xem.

 Nhân dịp Đờn ca Tài tử vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, tác giả mong muốn được góp chút công sức trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển loại hình văn nghệ dân gian độc đáo của Việt Nam này qua bài viết trên. Rất mong được sự thông cảm cho những thiếu sót không thể tránh khỏi và chân thành nhận sự góp ý từ phía người đọc.

 


 

____________________

(*) Tác phẩm tham dự Cuộc vận động sáng tác tác phẩm Lý luận Phê bình lần thứ I, năm 2013.

 
     
  Trần Thanh Hà ( Hội VHNT Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |