Chủ Nhật, ngày 18 tháng 11 năm 2018        
     
 
   Phóng sự
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  23/07/2018  
  ANH THƯƠNG BINH GIÀU NGHỊ LỰC  
  Tôi thấy anh nghiêng người, gác cánh tay cụt trên ghi đông chiếc xe tay ga, phía sau chở vợ chạy bon bon trên đường, rồi hạ ga vòng cua vô những đoạn đường nhỏ hẹp, trông rất điêu luyện không thua gì những người lành lặn. Tôi lại thấy anh cầm cây cuốc trên tay cuốc đất băm băm nhanh lẹ, rất thành thục. Tích lũy từng đồng trong những ngày tháng lao động, gom góp mua dần ruộng đất, đến nay anh có trên 50 công ruộng. Nhà cửa khang trang, nuôi 2 con ăn học, dựng vợ gã chồng, tạo sự nghiệp cho các con đề huề. Trần Bốn người thương binh cụt hết một tay phải, hạng 2/4. không đầu hàng số phận, giàu nghị lực, vượt lên thương tật để sống tốt, sống có ích cho đời.  
 
 


                                                                               

Anh thương binh Trần Bốn, năm nay tuổi ngoài 60, không phải là dân cố cựu ở xứ Sa Rài, Tân Hồng, Đồng Tháp mà quê gốc là Quảng Nam, ba mẹ kéo cả nhà vào đây lập nghiệp từ thập niên 1950. Anh là con thứ tư trong một gia đình có đến sáu anh chị em, những năm đầu cuộc sống của những người xứ Quảng mới vô gian nan, cơ cực lắm, phương tiện để sinh kế ở cái xứ sáu tháng nước, sáu tháng khô không có, lại không quen với môi trường mới. Nên cái đói luôn chực chờ, anh nói: Cha mẹ tìm đủ cái ăn cho bầy con là cả vấn đề, nhưng trời cũng thương, anh em tôi ai cũng khỏe mạnh. Đứa lớn trông coi đứa nhỏ, ba mẹ rảnh tay đi cuốc đất trồng khoai, anh em tôi tùy việc mà nhảy vô tiếp ba mẹ, như: đi làm mướn coi bò, coi trâu, mò cua bắt ốc, mót lúa, mót khoai…, cái đói tạm thời vượt qua. Thương ba mẹ anh em tôi ai cũng ngoan hiền, làm đủ việc đỡ đần gia đình trong những ngày gian khó, rồi thời gian dần cũng nuôi lớn con người, chúng tôi tự lo được phần nào cho bản thân, ba mẹ bớt vất vả.

Năm 1975 đất nước độc lập, niềm vui hòa bình, nhân dân tự do, sung sướng, đi lại làm ăn chưa được bao lâu thì năm 1976 giặc Miên (Pol Pot) kéo đến. Ai cũng biết, đây là lũ giặc có một quá trình lịch sử lâu đời là bạn bè với ta, Việt Nam đã đổ xương máu cứu giúp dân tộc Campuchia trong nhiều thập kỷ, nhất là công cuộc chống Mỹ vừa mới kết thúc năm 1975. Nay chúng trở mặt thành kẻ phản bội, kéo đến đánh ta trên toàn tuyến biên giới, thọc sâu vào nội  địa của Việt Nam với phương châm: “giết sạch, đốt sạch, cướp sạch”. Tân Hồng huyện biên giới (trước đây là Hồng Ngự), một trong những mũi tấn công thọc sâu của lũ giặc Miên. Tôi là thanh niên, tuổi chưa tròn 20, hừng hực khí thế, cùng những chàng trai khác trong xã Tân Công Chí đầu quân vào du kích, cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương. Tôi không nề hà bất cứ công tác nào do tổ chức phân công, tôi nghĩ miễn là giúp nhân dân được nhiều việc có ích là vui rồi với chức danh xã đội phó. Anh chậm rãi kể: Trong những năm 1976-1979 giặc Miên liên tiếp dàn trận đánh ta toàn tuyến biên giới, có khi chúng đánh sâu vào nội địa cướp bóc tài sản và đốt phá nhà cửa, hoa màu của đồng bào mình ở xã Tân Hộ Cơ, Bình Phú, Thông Bình…Thấy cảnh tượng đó mà căm hận lũ giặc sục sôi nhưng quân số du kích xã không nhiều, vũ khí thì cấp cho du kích xã rất thô sơ, chủ yếu là AR-15, cạc- bin, CKC, cơ số đạn lại ít không đủ sức và lực tiêu diệt hết bọn này. Dù sao anh em du kích chúng tôi vẫn mưu trí bám chốt chiến đấu, bám địa bàn đánh trả, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đuổi giặc Pol Pot về bên kia biên giới. Trận đánh ác liệt tại gò Thầy Tám mùa khô năm 1978, trong địa bàn xã Tân Công Chí, đồng chí Huỳnh Tấn Mỹ du kích xã hy sinh, tôi bị thương cụt hết một tay phải, trên mình bị nhiều miểng đạn…Đang cùng các đồng chí đánh giặc quyết liệt, bị thương, phải về phía sau dưỡng thương thật buồn. Thanh niên trai tráng như mình bị thương, nằm bẹp như thế nầy thật là tệ hại, đánh Miên đang hồi dầu sôi, lửa bỏng?... Bao câu hỏi cứ dồn tới làm cho đầu mình muốn vỡ tung, nhưng cái lo lớn nhất của tôi lúc này là đồng đội tôi, xã tôi, quê hương tôi có đánh bật lũ giặc Miên ra ngoài nổi không?, làng xóm tôi được bình yên không?

Sau khi hồi phục sức khỏe thì chiến tranh biên giới cũng kết thúc, năm 1979 ta giải phóng Camphuchia. Tôi lại tiếp tiếp lao vào công tác, được phân công phụ trách Xã đoàn. Anh em chúng tôi làm việc bằng sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, chứ có lương hướng gì đâu. Công tác được vài năm, sức khỏe yếu, tôi xin nghỉ về lo cuộc cuộc sống gia đình. Tôi hỏi: Anh thương và cưới chị khi còn công tác, lành lặn hay bị thương rồi mới gặp chị? Anh cười có phần ngập ngừng. Vợ anh chị Trần Thị Thanh, sinh năn 1963, cùng quê Quảng Nam vô đây cùng thời với gia đình anh, ngồi trò chuyện nãy giờ, cười trả lời thay anh: Tôi và ảnh thương nhau hồi anh còn công tác du kích xã, chưa bị thương. Hồi đó ngộ lắm, thương mà không dám nói một lời, anh chỉ đến nhà tôi chơi và nhìn nhau cười cười vậy đó, nhưng một ngày không gặp là thấy nhớ, duyên số an bài cho hai chúng tôi sao ấy. Không một lần nắm tay, không một lời hò hẹn mà thương nhau miết (chị nói theo người Quảng Nam). Hôm nghe anh bị thương, chuyển ra thị trấn Hồng Ngự tôi lo lắm, không biết nặng nhẹ, chết sống ra sao, tôi lội bộ ra thăm, hồi đó từ Sa Rài đi đến thị trấn Hồng Ngự mất một ngày đường đi bộ. Đến nơi chỉ được đứng ngoài nhìn, người bị thương đông lắm, thấy anh nằm đắp tấm vải trên người, chỉ ngó thăm qua song cửa, không thể giúp gì cho anh được. Tôi đứng như chôn chân, nước mắt rơi lã chã hồi nào, rồi biết anh không chết là mừng. Sau đó cứu thương chuyển anh về bệnh viện dã chiến đóng ở Mương Lớn. Chân đi không dép, tôi chỉ mang được hai hộp sữa bò cho anh bồi dưỡng. Ở lại thăm nuôi anh vài ngày rồi quay về nhà mà lòng cứ lo và nhớ thương anh quá đỗi. Sau thời gian trị bệnh, các vết thương của anh lành dần và anh xuất viện. Do bị thương dập hết xương tay, nên bác sĩ đành phải cưa một đoạn đến gần cùi chỏ, để bảo tồn phần còn lại. Chị nói thân thể anh không còn nguyên vẹn, việc đó không quan trọng, chỉ cần anh còn sống về đây với chị là được, là đủ lắm rồi. Nghe chị nói, tôi thấy hai người sinh ra là để cho nhau, ghép nên tình yêu đôi lứa, chân chất lòng người, thăm thẳm thủy chung.

Năm 1980 gia đình tác hợp cho đôi trẻ thành duyên giai ngẫu, cuộc sống lứa đôi thật sự được kết trái, thăng hoa từ tình yêu chung thủy bao năm dài. Anh chị bắt tay xây tổ ấm từ hai bàn tay trắng, bởi gia đình hai bên đều nghèo, có cho con được gì đâu, phải tự lực. Chị nói: vất vả, khó khăn thiếu thốn trong thời bao cấp, nhưng hai đứa được ở bên nhau là hạnh phúc, toại nguyện rồi. Cha mẹ chồng nghèo chắt mót, cho hai đứa một con trâu nghé. Một con trâu là vốn liếng lớn nhất mà đời tôi có. Ngày ngày anh dẫn nó đi cho ăn. Vào mùa nước gò Sa Rài ngập, cỏ không còn, phải bơi chiếc xuồng ba lá nhỏ xíu đi cắt, có lần tưởng chết giữa đồng. Hai vợ chồng mới cắt được mấy bó cỏ, gió mưa ào tới làm xuồng chìm, tôi không biết lội, chới với giữa đồng nước mênh mông, nhờ anh nhanh trí lôi tôi nằm lên đám cỏ. Anh hụp lặn lắc cho xuồng nổi lên, rồi vợ chồng trèo lên, bỏ hết cỏ bơi về. Sau trận hụt chết đó, anh chị không dám đi cắt cỏ ngoài đồng sâu nữa. Nhìn trâu dần lớn lên mà mừng, bao dự định cuộc sống của vợ chồng tôi sẽ nhờ từ con trâu này: Nó sẽ đi kéo, cày tạo ra tiền, nó sẽ sinh con cái ra sau này nữa… Trâu gần đến ngày đi kéo, đi cày được thì bọn ăn trộm lẻn vào trộm mất con trâu, sáng ra nhìn cái chuồng trâu trống không mà buồn nát ruột, chạy tìm khắp nơi, bọn trộm đem đi biệt tăm cá. Vợ chồng trẻ tay trắng lại hoàn trắng tay. Ông bà mình nói: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, giờ mình không còn trâu thì phải làm nhiều lên để mà có cái ăn. Người ta tay chân lành lặn, lao động cố gắng một, còn tôi phải cố gắng đến mười mới bằng anh, bằng em. Đôi khi tôi cũng tủi thân: Vợ người ta thì son phấn lụa là, còn vợ mình thì tương cà, dưa muối không đủ ăn, người ta thì tay chân lành lặn, còn mình thì cụt mất một tay, trái gió, trở trời xương khớp đau nhức tê người…Tôi trăn trở lắm, thương vợ nhiều. Nhưng được cái là vợ tôi không hề kêu than, so đo thiệt hơn, luôn động viên tôi và thương tôi hết mực.

Để có tiền trang trải cuộc sống tôi làm đủ việc, như làm thuê, làm mướn, mót lúa, mót khoai, mùa nước đi giăng câu, giăng lưới, có tiền không dám tiêu xài, vợ tôi cực kỳ tiết kiệm, như ngày ngày bả kiếm được củi không đem nấu mà để dành, gom lá tre nấu cơm ăn mỗi bữa, để củi đó khi thật cần thiết mới lôi ra nấu ... Tích cóp dần anh chị mua được 5 công đất. Năm công đất ruộng là một tài sản, nhưng làm ruộng thần nông thời điểm những năm 1980 nầy thất thê thảm, bởi không có phân, thiếu nước, chuột bọ, sâu rầy phá, đến thu hoạch một công được vài thùng lúa. Sáu tháng cuối năm nước lớn, lên nhanh, nhấn chìm cả cánh đồng, lúa làm mồi cho cá ăn. Tiếc của anh lặn mò lặt từng bông lúa, lặn riết con mắt đỏ hoe, vớt vát được chút ít lúa đem về, do ngâm lâu ngày dưới nước, khi đem lên lúa lên mộng, thúi um cũng không ăn được, phơi cho gà, vịt ăn.

Theo anh em đia phương: Cuộc sống những năm 1980 ở xứ gò Sa Rài này khó khăn lắm, kiếm được miến ăn đã khó, đem con cá, rổ khoai đi ra chợ bán càng khó hơn, vì từ Sa Rài ra tới chợ Hồng Ngự mất một ngày đường đi bộ… Khó khăn là vậy, anh thương binh Trần Bốn không kêu ca, không đòi hỏi Đảng nhà nước một điều gì. Anh thường tâm sự: Người ta hy sinh, đổ xương, đổ máu, cống hiến  cho dân tộc còn nhiều hơn mình, mình bị thương mà còn sống là mừng rồi, so với họ mình có là bao. Nên anh động viên vợ phải phấn đấu tự vươn lên, kêu than thêm nhụt ý chí. Không đầu hàng số phận, với một bàn tay còn lại, cùng với sự cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi lao động, khéo gói ghém của chị, nên cuộc sống của hai người dần bớt khó khăn.

Năm 1983 chị sinh con gái đầu, năm 1987 sinh thêm được cậu con trai, người ta sinh con có thời gian nghỉ hậu sản, chị gần như không, vừa tạm gọi là cứng cáp, chị lao ra tiếp anh làm ruộng, quán xuyến việc nhà. Nhiều người nói: Vợ của Trần Bốn nó liều quá, mới sinh còn yếu, mà ra đồng ra ruộng. Chị nói: Thấy anh có một tay, làm một mình chịu không nổi, nên cố gắng tiếp giúp anh được gì thì được. Trời thương, hai đứa con anh khỏe mạnh, học giỏi, anh chị cũng không ốm đau. Mỗi năm tích cóp anh mua đất ruộng thêm, số ruộng anh hiện có 50 công, cất được ngôi nhà kiên cố, trong một khuôn viên rộng rãi tại chợ huyện. Hai đứa con lớn lên đi học ngành sư phạm, hiện đều là giáo viên, dạy tại huyện nhà. Các con anh đều lập gia đình, có cuộc sống ổn định: Con gái có chồng bác sĩ, con trai lấy vợ là giáo viên, anh chị có 4 cháu, nội ngoại.

Tôi hỏi: Anh chị đi qua quãng đường gian nan, cực khổ giờ có được thành quả như vầy, anh chị có ước mơ, mong muốn gì nữa không? Như có dịp, anh cởi tấm lòng: Nhà nước chăm lo chế độ thương binh cho tôi, từ đó đến giờ như thế là quá tốt, tôi không đòi hỏi gì, chỉ mong nhà nước chăm lo cho những gia đình chính sách khác còn nhiều khó khăn tốt lên, làm cho xã hội ổn định, phát triển để cho nhân dân được yên ổn làm ăn là mừng.

 Anh Dương Tấn Danh, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân thị trấn nói về thương binh Trần Bốn: Trong các lần thị trấn họp xét những người có công với cách mạng, đều mời anh Trần Bốn tham gia. Anh là người rất chính trực, không thiên vị, nhận xét đúng người, đúng việc. Anh là thương binh cụt mất một tay, nhưng lao động khó ai bì kịp, không công thần, ỷ lại, vượt lên nghịch cảnh để tồn tại và khẳng định mình, tàn nhưng không phế. Chị Trần Thị Thanh vợ anh, người “đầu ấp tay gối”, thương chồng, thương con hết mực, giữ lửa, gói ghém cùng chồng tạo nên cơ ngơi, xây dựng tổ ấm viên mãn.

Trời đất sinh ra hai người là để cho nhau, kết thành duyên đôi lứa, sâu thẳm tình người, thứ tình cảm chỉ đến với nhau từ con tim. Nó không đơn thuần chỉ là tình cảm đôi lứa, mà còn là chỗ dựa vững chắc của hai tâm hồn đồng điệu, được thử thách từ gian khó, yêu thương, chung thuỷ, giờ vui nhìn con trưởng thành, đàn cháu tung tăng, nhấm ly trà trong ngôi nhà êm ấm là thoả nguyện.

                                                                     

 

 

 

 

                                                                                     


 

 

 

  

 

 

 

 
     
  Đỗ Hoàng Tiễn ( BÁO VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật









  • TRANG THƠ VNĐT (24/10/2018)












  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |