Thứ Hai, ngày 28 tháng 9 năm 2020        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  30/07/2020  
  TRỞ VỀ TỪ ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN  
     Trong một dịp đi tìm tư liệu các chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày của tỉnh, tôi thật may mắn được gặp Trưởng ban liên lạc, ông Nguyễn Thái Dũng (bạn bè hay gọi tên thân mật Tám Dũng), nguyên Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc sở Lao động - Thương binh - Xã hội tỉnh Đồng Tháp. Trò chuyện cùng ông, tôi vô cùng ngưỡng mộ và cảm phục người chiến sĩ cách mạng mang thương tích đầy mình, lại bị địch bắt đày ra nơi người ta thường  như địa ngục trần gian, mang tên Phú Quốc, mười người đi chỉ một - hai người may lắm còn sống sót trở về bởi sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù. Chưa hết, ông còn là loại nặng nhất trong bảng xếp hạng thương binh của nhà nước, với tỷ lệ thương tật tới 82%, là loại ¼. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông là một trong những người lính dũng cảm, kiên cường của Tiểu đoàn Năm lẻ hai anh hùng, đơn vị vũ trang của Tỉnh đội Kiến Phong (Đồng Tháp ngày nay).  
 
 


                 Ông Nguyễn Thái Dũng.jpg                              

       

          Khi tôi hỏi Ông bị thương mấy lần? Bị nhiều lắm, nhưng có ba lần nặng nhất, ông kể: Lần đầu tôi bị thương khi mới 17 tuổi, chưa đủ tuổi nhập ngũ, còn ăn chực các chú, các anh, là trận Tiểu đoàn tổ chức đánh chúng vào ngày 15 tháng 5 năm 1966. Nắm được tình hình, tin tức địch, ta chủ động quyết định dùng Tiểu đoàn 502 tiến đánh Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 16, Sư đoàn 9 ngụy tại xã Mỹ Hổ, huyện Mỹ An. Tất nhiên không trang bị vũ khí bằng chúng, nhưng trận ấy ta ở vào thế chủ động hoàn toàn, cứ thẳng tay giương súng vào chúng mà nã đạn. Kết thúc trận đánh, Tiểu đoàn 502 thắng áp đảo, bắt được nhiều tù binh và hơn 300 lính ngụy bị tiêu diệt. Chúng ta hy sinh và bị thương một số ít. Trận này tôi bị một miểng vào đầu, đui mắt trái và một số mảnh ghim vào phổi. Bị thương không nặng lắm. Một tháng điều trị ở Quân y tỉnh, vết thương vừa lên da non, tôi xin trở về đơn vị, tiếp tục chiến đấu.

          Bị thương lần thứ hai khi 18 tuổi, là trận đánh vào ngày 15 tháng 4 năm 1967, cách lần bị thương trước một năm. Đại đội 1 và đại đội 3 của Tiểu đoàn đánh nhau với hai đại đội Pac - Chung- Hy đóng ở xã Đốc Binh Kiều, huyện Mỹ An (Tháp Mười ngày nay) nhưng lần này ta ở thế bị động. Địch núp trong công sự bắn ra, mình giàn quân ở ngoài đồng trống, ngay bờ chướng (đáy), ta hy sinh và bị thương nhiều. Trận này tôi bị mấy miểng văng vào bụng. Ruột bị lủng khâu tám lỗ, Quân y phải mổ banh bụng ra mới khâu ruột được và lá phổi lại bị găm thêm ít miểng nữa, y sĩ phải tìm gắp ra. Lần bị thương này nặng hơn, tôi phải nằm điều trị mất ba tháng trời mới khỏi để trở về đơn vị.

         Còn lần thứ ba bị thương rồi bị địch bắt luôn, trong trận chiến đấu vào ngày 17 tháng 5 năm 1969, khi tôi 20 tuổi. Lúc này tôi là đại đội phó đại đội 1 của Tiểu đoàn, được lệnh trên dẫn quân qua Cù lao Chợ Mới (lúc này Chợ Mới còn thuộc Kiến Phong, sau này mới sáp nhập về tỉnh An Giang). Đơn vị được giao nhiệm vụ chính là qua bển vận động, tuyên truyền giáo dân, không nghe lời xúi bậy của bọn phản động mà chia cắt tình đoàn kết tôn giáo. Sự may mắn đã không mỉm cười với chúng tôi. Tụi địch được mật báo, thật đáng sợ, cả chục Tiểu đoàn Mỹ - ngụy dồn quân về muốn "nuốt chửng" cái Cù lao nhỏ bé này. Trên trời mấy chục máy bay đen đặc quần đảo, oanh tạc, nhả đạn xối xả, dồn dập xuống bất cứ chỗ nào chúng nghi ngờ; trên ruộng, trong vườn và ở mọi ngả đường thì thiết giáp, rồi lính bộ binh bao vây gần như dồn cả đơn vị vào "rọ". Kết thúc trận chiến, Năm lẻ hai bị thiệt hại nặng, trong đại đội nhiều chiến sĩ, chỉ huy bị bỏ xác tại trận địa (ông Chín Đồng, Tỉnh đội phó Kiến Phong cũng hy sinh trận này). Còn tôi bị thương nặng, nhiều miểng đạn địch một lần nữa găm vô khắp người trong đó có lá phổi nhỏ bé. Máu me đầm đìa, mất máu quá, choáng, tôi lịm đi, mê man không còn biết gì nữa. Tụi lính xúm lại thấy tôi chưa chết, băng bó sơ sơ, hốt lên trực thăng, đưa tôi về Trại giam Long Xuyên thẩm vấn cùng nhiều thương binh của ta.

         Ngày sau khi tôi tỉnh lại, nhìn xung quanh biết mình đã bị bắt, tôi chuẩn bị trong đầu lời khai, những câu trả lời cho hợp lý, tôi là lính Huyện đội Thanh Bình được giao qua Chợ Mới vận động Hòa Hảo. Kẻ địch cũng chẳng ngu, có mấy thằng chiêu hồi ở Mỹ An, tụi lính kêu ra nhìn tôi, nhận diện. Chúng nói tôi dân Mỹ Quí nhưng không biết tôi là lính Tiểu đoàn Năm lẻ hai của tỉnh vì bọn này về đơn vị khi tôi đi rồi. Sau đó chúng chuyển tôi qua Bệnh viện Long Xuyên trị thương. Lo bị thương nặng lỡ chúng tra tấn vào những vết thương còn đang hở miệng, rỉ máu, tôi tìm cách kéo dài thời gian điều trị tại đây tới hai tháng, cứ khai vẫn còn đau bụng. Mà đau bụng thì có trời mới biết lý do tại sao! Sau đó chúng chuyển tôi đến trại giam tù binh Cần Thơ một năm rồi tiếp tục đày ra Trại giam Phú Quốc vì nhiều lần vận động tôi chiêu hồi không được, chúng kết luận tôi là lính loại ngoan cố, cứng đầu, không cải tạo được.

            Sau khi ký Hiệp định Pari năm 1973, tôi cùng một số anh em tù còn sống ở Trại giam Phú Quốc mới được trao trả tại bờ sông Thạch Hãn, kết thúc gần  bốn năm trời đằng đẵng nằm trong tay kẻ thù. Chúng tôi rất tự hào đã giữ vững khí tiết, lòng yêu nước của những người chiến sĩ cách mạng, chiến thắng trở về với đồng đội và nhân dân.

        Với giọng trầm trầm, nụ cười hiền hậu, ông kể cho tôi nghe những ngày xa ngái ấy cách nay hơn nửa thế kỷ. Sinh năm 1948, nhà gần đồn Mỹ Quí, huyện Mỹ An, cha chỉ là nông dân, má bị địch bắn chết khi rất trẻ, anh Hai đã thoát ly từ trước, rồi sau cũng hy sinh, thằng em Út nhập ngũ vô chung Tiểu đoàn, sau cũng bị thương. Dù nhỏ, nhìn làng quê ngày ngày bị quân giặc giày xéo, hà hiếp dân nghèo, lòng căm thù giặc ngày càng lớn nên tôi nằng nặc xin bằng được vào bộ đội, được cầm súng chiến đấu để quê hương sạch bóng quân thù, chỉ suy nghĩ một cách đơn giản vậy thôi.

          Ít nói về mình, ông kể cho tôi nghe chiến công oai hùng nhưng vô cùng khốc liệt thời máu lửa về những trận đánh mà ông từng tham gia, sự mất mát đau thương của những chàng trai, cô gái gái đồng đội mãi mãi dừng lại ở tuổi mười tám, đôi mươi để mang lại hòa bình, tự do cho quê hương, đất nước; Ông kể về cái tình, cái nghĩa của đồng chí, đồng đội chẳng khác gì anh em ruột thịt trong một mái nhà, chia xớt nhau từng điếu thuốc, miếng cơm, củ khoai, manh áo, lo cho nhau khi hoạn nạn, khó khăn. Ông cho biết, hay cùng anh em kè ông Phạm Hồng Kiểng tới lui trong Trại giam Phú Quốc bị chúng cưa chân, để trong di chúc ông Tám Kiểng cứ dặn đi dặn lại con trai: Khi ba chết, người báo đầu tiên là Thái Dũng, chú ấy phải tiễn ba một đoạn, đi hành trình dài về miền vô cực, ba mới yên lòng nhắm mắt, tôi ứa nước mắt lúc nào không biết nữa...

       Ông có sợ khi bị thương nặng nhiều lần, lại bị bắt tù đày không, tôi hỏi? Ai không suy nghĩ là hoang đường. Sợ thì tôi không sợ và không bao giờ nghĩ chuyện khai báo hay đầu hàng giặc nhưng có lúc cũng băn khoăn chứ. Mới hai mươi tuổi, ruột gan phèo phổi bấy bá thế này, sau may mắn được trở về thì cũng là một phế nhân rồi, ai mà dám gắn bó với cuộc đời mình…

            Thế nhưng như một câu chuyện cổ tích có hậu, hạnh phúc đã mỉm cười với ông, bà Hồ Ngọc Lựu quê Sa Đéc, người con gái trẻ trung, xinh đẹp cùng cơ quan đã nguyện gắn bó với cuộc đời còn lại của ông. Hạnh phúc đã đơm hoa, kết trái trong gia đình bé nhỏ của người chiến sĩ cộng sản, một người thương binh nặng, cựu tù Phú Quốc ở ngay thành phố Cao Lãnh này.

          Bao năm chiến tranh đã lùi xa, bom đạn đã nằm yên trong quá khứ nhưng tất cả mọi người vẫn luôn nhớ về các ông, nhớ những câu chuyện chiến tranh cứ mỗi độ tháng 7 về. Thế hệ ông đã góp phần vào sự quật cường của cả dân tộc Việt Nam. Tôi như “nhìn thấy” lớp lớp cha ông đã sẵn sàng vì đất nước, không tiếc máu xương và cả tuổi thanh xuân của mình dành cho dải đất nước hình chữ S hôm nay:

         “Có một bài ca không bao giờ quên;

            Là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên;

            ....Bài ca tôi không quên, tôi không quên,

            gạo hẩm cầm hơi, một điếu thuốc cũng chia đôi....”.

            Vâng! Cả đất nước không bao giờ quên ơn các anh, những người anh hùng đã chiến đấu, sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc gọi tên mình.

                                                                                   

 
     
  Phạm Thị Toán ( Báo VNĐT)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật



  • RẠCH BÀU HÚT (18/09/2020)


















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |