Thứ Sáu, ngày 14 tháng 8 năm 2020        
     
 
   Bút ký
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  23/03/2020  
  CÔNG NỮ NGỌC VẠN – CẦU NỐI HAI DÂN TỘC  
 

Kỳ II: Hoàng hậu Chân Lạp và những đóng góp sự phát triển của người Việt ở Đàng Trong (phần 1)

 
 
 

Đàng Trong là tên gọi vùng đất thuộc lãnh thổ Đại Việt do chúa Nguyễn kiểm soát và quản lý được xác định từ phía Nam sông Gianh trở vào Nam. Nhưng trước khi nói đến chúa Nguyễn và Đàng Trong cũng xin nhắc lại một chút về tình hình chính sự khi ấy. Năm 1545, người được xem nội tổ phụ của các chúa Nguyễn và ngoại tổ phụ của các chúa Trịnh là Nguyễn Kim bị hạ độc chết. Ông có ba người con là Nguyễn Thị Ngọc Bảo được gả cho Trịnh Kiểm, Lãng Xuyên hầu Nguyễn Uông và Đoan quận công Nguyễn Hoàng. Sau cái chết của Nguyễn Kim, con rể Trịnh Kiểm được giao giữ chức Đô tướng tiết chế các dinh quân thuỷ bộ các xứ kiêm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự tức là gần như nắm hết toàn bộ binh quyền của nhà Lê lúc bấy giờ. Trước việc Trịnh Kiểm dùng nhiều “chiêu thức” khác nhau để loại trừ phe cánh của Nguyễn Kim còn lại để củng cố địa vị của mình, Nguyễn Hoàng đã nhờ chị mình là Nguyễn Thị Ngọc Bảo tranh thủ tình cảm với Trịnh Kiêm cho phép được mang quân đội do mình quản lý và bà con, quyến thuộc vào trấn thủ Thuận Hóa vào năm 1558 và Tổng trấn tướng quân kiêm quản vùng Quảng Nam vào năm 1570. Khi Nguyễn Hoàng bệnh nặng biết không thể qua khỏi nên giao quyền lại cho con trai là Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 1613 với lời căn dặn: Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam. Đất Thuận Quảng này phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Cũng xin nói thêm rằng, trước khi giao quyền cho con, Nguyễn Hoàng đã chinh phục vùng đất Hoa Anh (tức Phú Yên ngày nay). Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu trong một bài viết về nguồn gốc hình thành đất Phú Yên thì một viên tướng của Nguyễn Hoàng là Lương Văn Chánh là người có công lớn trong việc khai phá vùng đất này. Truyện cổ dân gian còn lưu giữ một truyền thuyết về việc Lương Văn Chánh thu phục vùng Phú Yên bằng mưu mẹo như sau. Khi ông đưa lưu dân đến khai khẩn vùng Đà Diễn thì vấp phải sự chống đối của người Chăm. Để yên dân địa phương cũng như để tạo sự đồng lòng trong việc khai phá và xây dựng vùng đất mới, Lương Văn Chánh chủ trương không giải quyết xung đột bằng vũ lực. Ông đưa ra một lời thách đố người Chăm là ông sẽ xây dựng xong một cái tháp trên núi Chóp Chài chỉ trong 3 ngày, nếu không xong ông tự động rút lui, còn nếu xong thì người Chăm không được chống đối nữa. Người Chăm đồng ý chấp nhận thách đố vì xây tháp là sở trường của họ, họ biết rõ là phải mất hàng năm mới hoàn thành. Hai ngày trôi qua, và chỉ qua đêm cuối cùng một ngôi tháp lộng lẫy cao vút hiện ra trên núi Chóp Chài. Người Chăm vô cùng thán phục và cho rằng Lương Văn Chánh được trời giúp. Vì vậy họ lại yêu cầu cuộc thi phá hủy tháp. Lương Văn Chánh đồng ý, và trong khi tháp Nhạn đang bị đập phá thì trên núi Chóp Chài ngôi tháp uy nghi bằng giấy nhanh chóng tan biến bằng một mồi lửa. Nạn binh đao không xảy ra, việc khai khẩn Phú Yên diễn ra một cách hòa bình. Còn theo Địa chí Phú Yên thì Lương Văn Chánh đã đem kinh nghiệm khẩn hoang vùng Thuận Quảng áp dụng vào đất Phú Yên, như chia dân thành từng toán nhỏ (khoảng 50 người) và chú trọng vai trò của các nhóm gia đình và các đại gia đình trong việc khẩn hoang, dùng các chính sách đòn bẫy như là thuế, quyền sở hữu ruộng đất mới khai hoang để khuyến khích nhân dân khai phá sản xuất. Mặt khác, nhờ kinh nghiệm làm nông và bản chất cần cù chịu khó, những người nông dân đã biến vùng đất này thành làng xóm trù phú đông đúc, một vùng nông nghiệp phát triển. Lương Văn Chánh được nhân dân suy tôn là Thành Hoàng, được sắc phong của nhà Nguyễn vào năm 1822 và 1843 làm “Thượng đẳng thần”, lập đền thờ tại xã Phụng Tường huyện Tuy Hòa, được thờ cúng ở nhiều nơi trong tỉnh Phú Yên.

            Chính vì nhớ lời cha mình trăn trối trên giường bệnh nên Nguyễn Phúc Nguyên ra sức mở mang bờ cõi về phía nam. Hồi đó, phía Nam còn thuộc về quyền quản lý của Chân Lạp. Tuy nhiên, mặc dù là quốc gia tự trị như mỗi khi hoàng tử nào muốn lên kế vị ngai vàng thì phải sang Xiêm La làm con tin một thời gian. Vua Chey Chetta II trước khi lên ngôi vào năm 1619 cũng từng con tin ròng rã mười năm từ năm 1594 đến năm 1604. Vì vậy, khi nhận thấy thế lực của nhà Nguyễn có thể làm chổ dựa đương đầu với Xiêm La thì ông đã tìm đến chúa Nguyễn cầu hôn công nữ Ngọc Vạn với mục đích thông qua cuộc hôn nhân này nhằm tạo ra một lực lượng cân bằng với những ảnh hưởng của Xiêm La đối với Chân Lạp. Còn với chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên thì đây sẽ là điều kiện thuận lợi để mở mang bờ cõi phía Nam như những lời căn dặn của cha mình. Cuộc hôn nhân này nói như tham luận Văn hóa chính trị của chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong của Giáo sư Tiến sĩ Võ Văn Sen (Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH và NV TPHCM) in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX tổ chức tại Thanh Hóa năm 2008, trang 188 thì: “Về chính sách Nam tiến, Nguyễn Phúc Nguyên không đi theo lối mòn truyền thống của những người đi trước theo hướng trực chỉ Bắc Nam và bằng biện pháp quân sự, mà đi bằng đường vòng khôn khéo và êm ả hơn. Lợi dụng thế Chân
Lạp đang suy yếu muốn dựa dẫm vào chúa Nguyễn, để tìm một lực lượng chống lại
sự uy hiếp người láng giềng Xiêm Long An, Phúc Nguyên đã kết thân với Chân Lạp
thông qua một cuộc hôn nhân chính trị, gả con gái (công chúa Ngọc Vạn) cho vua
Chey Chetta năm 1620. Cũng tại hội thảo trên, Tiến sĩ
Trần Thuận (Khoa Lịch sử - Đại học KHXH và NV TPHCM) cho rằng: đây là một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, nó đáp ứng nhu cầu cho cả hai phía. Chân Lạp cần có sự “bảo hộ” của chúa Nguyễn để tránh khỏi sự tấn công tiêu diệt của vương quốc Xiêm. Chúa Nguyễn cần có chỗ đứng ở phía Nam, đẩy mạnh sự khai phá của lưu dân Việt trên mảnh đất mà từ lâu người Chân Lạp vẫn bỏ hoang, đồng thời tạo nên sự ổn định mặt phía Nam để rảnh tay lo đương đầu với thế lực Trịnh ở phía Bắc. Cuộc hôn nhân này, nếu những ai quan tâm đến vai trò chính trí trong hôn nhân có thể tham khảo thêm Tập san Sử địa số 19 -20  Chuyên đề Nam tiến của dân tộc Việt do nhà xuất bản Khai trí ấn hành năm 1970 ắt sẽ có nhiều điều tiếp cận hơn. Theo Tiến sĩ Đỗ Quỳnh Nga trong quyển sách Công cuộc mở đất Tây Nam Bộ thời chúa Nguyễn do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2013 thì: "Sự kiện quan trọng có ý nghĩa mở đầu cho mối quan hệ chính thức giữa Chân Lạp và Đàng Trong, cũng như đối với quá trình mở đất của chúa Nguyễn chính là cuộc hôn nhân ngoại giao giữa vua Chân Lạp là Chey Chettha II với công nương Ngọc Vạn”. Chúng tôi (NV) đồng ý với tác giả khi dùng thuật ngữ "hôn nhân ngoại giao" thay vì "hôn nhân chính trị" trong trường hợp này.

            Như vậy dù có mục đích gì đi nữa thì công nữ Ngọc Vạn phải về làm vợ vua Chân Lạp là Preachey Chetta II khi ông 44 tuổi và đã có 2 người vợ, 1 người thiếp. Tuy nhiên, bà vẫn được phong làm hoàng hậu với tước hiệu Brhat Mae Somdach Brhat Bhagavati Amara Deva Thida hay còn gọi là vương hậu Somdach. Theo Nguyễn Văn Quế, trong sách “Histoire des pay de L’Unicon Indochinoise (Vietnam, Campodge, Laos)” tức Lịch sử các nước Đông Dương, Việt Nam, Cao Miên, Lào in năm 1618 thì  “Công chúa Ngọc Vạn có sắc đẹp, đoan trang thùy mị lại thông minh, xử sự khéo léo nên không bao lâu đã chiếm được lòng yêu thương của vua” Nhờ vào tài sắc vẹn toàn nên sau khi kết hôn với Vua Chey Chetta II, Ngọc Vạn được phong Hoàng hậu, lấy mỹ hiệu là “Somdach Préa Péaccacyo dey Préavoréac Ksattrey”. Ngoài ra, vua Chân Lạp còn phong quan tước cho một số người đi theo công nữ Ngọc Vạn và được nắm giữ một số chức vụ trong triều đình. Thậm chí một số nhà viết sử sau này từng ghi chép rằng khi làm hoàng hậu Chân Lạp thì công nữ Ngọc Vạn còn đưa được một số thuộc hạ thân cận người Việt và người Trung Hoa vào làm việc trong triều đình Chân Lạp. Chính số tướng sĩ người Việt và người TrungHoa này đã giúp cho vua Chey Chetta II đánh bại các cuộc tấn công của quân Xiêm vào Chân Lạp trong năm 1621-1623. Thiết nghĩ, họ là ai và vai trò của những người này đã cùng với công nữ Ngọc Vạn giờ đã là hoàng hậu Chân Lạp tác động đến mối quan hệ giữa chúa Nguyễn Đàng Trong và Chân Lạp như thế nào cũng cần phải làm rõ công trạng để hậu thế tôn vinh.

 
     
  Hữu Nhân ( báo VN)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

 Bài mới cập nhật





















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |