Thứ Ba, ngày 18 tháng 2 năm 2020        
     
 
   Truyện ngắn
  Bản in |  Gửi email    Cập nhật ngày:  24/10/2010  
  Tiếng độc huyền và cây cột nhà gỗ sao  
 

Một hành động bột phát, gần như vô thức, nhưng mạnh mẽ và kiên quyết : ông Tám Bê đột ngột vùng dậy, chân bước những bước dài về phiá bàn thờ, đôi bàn tay thoăn thoắt tháo sợi dây độc nhất nơi chiếc đờn bầu, rồi sau đó, ông dùng chính sợi dây thép mỏng manh ấy, tự trói đứng mình vào cây cột gỗ sao. Ông Tám Bê xiết chặt hai vòng dây quanh người mình bằng cái sức mạnh dồn nén của bảy mươi năm cày sâu cuốc bẩm, phát ra từ đôi tay gầy guộc , xương xẩu.

“ Đó, hãy thiêu sống tao cùng với cái nhà này đi, rồi muốn làm chi thì làm ! Tao thà chết đi còn hơn phải sống mà ngó cái cảnh nắm xương anh hùng bị vùi trong cứt heo, bã cám ! “.

(Trích)

 
 
 

Hai cánh tay ông Tám Bê như hai que củi trâm bầu quờ quạng bơi vào vũng bóng tối râm ri tiếng muỗi phiá trước mặt. Không chừng cũng đã đến chín giờ tối rồi. Gió ngoài rừng tràm bắt đầu nổi ù ù. Đêm đen đặc như đang đi dưới địa đạo. Mặc dù, đã biết việc này thế nào cũng sẽ xảy ra, nhưng từ lúc xế chiều,khi nhận tờ lệnh giải tỏa ( mà chính là được thông báo bằng miệng ) từ tay thằng Ân du kích mang tới, ông Tám Bê bỗng thấy người mình như bị trúng gió. Mấy hạt gạo bắc trên bếp từ lúc mặt trời còn đậu ngoài đỉnh rừng tràm, chưa kịp nhai, ông cũng không còn nhớ. Gấp vội mảnh giấy - hiện hình của tai họa đang giáng xuống chốn thiêng liêng nhất trong cuộc đời mình, lẩy bẩy đút nó vô cái ống đựng tăm, móc nơi ngọn cây cột nhà bằng gỗ sao cháy sém, ông hấp tấp đặt mình xuống chiếc giường tre ọp ẹp. Ruột gan ông phừng phừng như lửa đốt đồng. Hai hố mắt sâu ( bởi một phần do cái tư thế nằm ngửa) nhìn găm vào cái lỗ thủng trên nóc nhà - cái lỗ thủng đã mấy năm nay, mỗi ngày một to ra mà ông thì không còn đủ sức leo lên che nó lại. Cái lỗ thủng mà giờ này, ông nhìn thấy nó bằng tiềm thức, bằng ảo giác hơn là bằng sự tinh nhạy yếu ớt của đôi mắt già nua, bởi vì đêm đen đã chià bàn tay hào phóng vá giùm ông sự rách nát đó. Ở cái tuổi một lão nông như ông, nằm ngửa mặt mà nhìn một cách bất lực cái lỗ nắng xuyên mưa dột của nhà mình ngày một to ra, đến mức nó hằn vào thói quen, vào tiềm thức như vậy, quả là một sự trừng phạt ghê gớm lắm ! Tuồng như ở cái nơi mắt ông nhìn tới cũng đang có lửa bốc lên phừng phừng. Từ cái lỗ thủng đó, trong ngùn ngụt lửa cháy, cuộc đời ông hơn bảy mươi năm qua, bỗng hiện về mồn một như đang hiện trên màn  hình ti-vi ( cái màn hình mà có lần ông may mắn được coi tại phòng tiếp dân ở trên tỉnh cách đây sáu, bảy năm, lúc ông làm một chuyến lội bộ đến kính nhờ mấy ông cách mạng  giúp mình làm cái việc đền ơn đáp nghiã đối với mấy thằng giải phóng).

Đêm tối bưng làm cho những hình ảnh trong cuốn phim đời ông như rõ ràng, sinh động thêm lên. Tiếng chuột rúc rích, sục sạo kiếm ăn khắp cái nền đất ẩm lạnh, lộng hành như một lũ cướp trên tàu hỏa, cũng không dứt nổi tâm tưởng ông khỏi dòng kí ức nóng hổi...

...Ngày ấy, ông Tám Bê còn là một đứa trẻ cù bơ cù bất, đi chăn trâu mướn cho nhà điền chủ. Cha mẹ, họ hàng của ông là ai; quê cha đất tổ của ông chốn nào, ông không biết. Chỉ biết khoảng năm lên sáu, lên bảy, thằng cu Bê khèo khẳng như một cọng đun đã cầm roi cai quản bầy trâu đen bóng, mập ú cả trăm con cho nhà người ta, dầm mưa dãi gió qua bao mùa nước nổi giữa Đồng Tháp Mười mênh mông. Mãi đến năm tam thập nhi lập , khi Cách mạng Tháng Tám về, hai cái bắp chân săn chắc như hai cột nhà gỗ sao của anh Tám Bê mới rút được ra khỏi vũng bùn số kiếp. ( Cái tên Tám Bê mà người ta gọi ông, chính là dấu ấn của sự kết hợp tự nhiên mà ý vị giữa kiếp chăn trâu thuê mấy chục năm với cuộc đổi đời lớn lao trong những ngày Tháng Tám ). Rồi ông được cấp đất - cái miếng đất mà giớ này, ông đang nằm tựa tấm thân gầy guộc, nhức nhói của mình vào nó..                                              

Một âm thanh lanh lảnh, xao động và nhòa đi rất nhanh trong bóng đêm - âm thanh phát ra từ sợi dây đàn bầu do lũ chuột va vào - làm ông Tám Bê choàng tỉnh. Ông loạng choạng ngồi dậy như sực nhớ một điều gì hệ trọng. Lò dò kiếm hộp quẹt, bước chân ông ngật ngưỡng như thể bước chân của người bị bệnh lâu ngày mới khỏi. Run run bật quẹt, hai tay ông lại run run gieo chút lửa nhỏ nhoi vào ngọn bấc chiếc đèn hột vịt đặt trên bàn thờ. Ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu hắt vào khuôn mặt bị bỏng nặng vốn đã trắng bạch và nhăn nheo của ông, làm cho nó càng thêm dị dạng. Trên tấm vách lá bên hông bàn thờ, bóng chiếc đầu của ông in to lên, trông như đã bị cắt rời ra khỏi cơ thể. Và ở đó đang rơi xuống những tiếng khê đặc, rời rạc :

- Cùng...đường...rồi !...Mấy đúa...bây...tính...sao ?...

Ông Tám Bê đứng bất động, miệng lầm rầm, nói mà như khấn trong mùi trầm hương đông đặc trước bàn thờ. ( Cái bàn thờ nhỏ cùng với cây cột nhà cháy sém là những thứ gia tài còn sót lại kể từ hồi nhà ông bị tụi ác ôn đốt cháy lần sau cùng ). Thực ra, cái bàn thờ là do ông moi móc trong đống cháy lụi của ngôi nhà mà tạo ra, và như ông nói : cốt là để có chỗ thờ phụng mấy đứa giải phóng xê mười  ( C.10 ) - thờ cái gan góc của tụi nó khi sống và thờ hồn thiêng của tụi nó khi chết.

Ông đứng như vậy rất lâu, dòng hồi tưởng bị ngắt quãng bỗng được nối lại, nhưng lần này thì nó cứ chập chờn, ẩn hiện ở cái nơi mà mắt ông đang đăm đăm nhìn vào - nơi ba chấm lửa nhang lập lòe, nghi ngút...

...Hồi đó, nghiã là từ thuở khởi nghiã cướp chính quyền, ngôi nhà của ông Tám Bê dựng trên một miếng đất gò biệt lập, bao quanh là cánh đồng ngập nước bốn mùa, xa một chút là bạt ngàn rừng tràm. Ngôi nhà vốn được làm bằng cây tràm lụt do chính bàn tay ông móc lên từ bùn lầy Đồng Tháp Mười. Hồi chín năm , nhà ông cũng là một trong những nơi dừng chân của dân bưng biền . Dù không tự nguyện từ đầu, cuối cùng ông cũng đã theo kháng chiến. Cái miếng đất Cách mạng cấp  và địa thế ngôi nhà, nó buộc ông phải làm như vậy. Sự đã thế, nên năm năm mươi  (1950 ), ông Tám Bê quyết chí dựng lại nhà. Ông đinh ninh mà không nói với ai về cái chí phải cất căn nhà sao cho thật cứng cáp, cho xứng với cái tên nhà cơ sở của ta , lấy đó làm sự lập công, để có dịp báo cáo với Cụ Hồ. Bôn tẩu mãi, cuối cùng ông cũng đã đổi lúa cho người ta được cây cột gỗ sao thượng thọ, làm cây cột trụ cho ngôi nhà. Khi buộc xong mối lạt cuối cùng, ông đã thắp hương khấn thủy thần Đồng Tháp Mười hãy thương tình cảnh ngộ ông đơn độc , hãy vì kháng chiến mà phù hộ độ trì cho ngôi nhà khỏi gặp cơn hỏa hoạn. Nhưng thủy thần đã không nghe lời ông cầu nguyện. Năm lần bảy lượt, hết Tây lại đến Mỹ, thay nhau đốt đi đốt lại ngôi nhà. Và bây giờ, tất cả chỉ còn sót lại mỗi hai thứ...

Đã cháy lụn mấy lượt nhang. Ông Tám Bê vẫn đứng như pho tượng Phật óm. Đôi chân ông như muốn thụt xuống lớp đất nền nhà ẩm ướt. Thắp thêm ba cây nhang, ông ngồi bệt xuống chiếc ghế thấp làm bằng gốc cây cột nhà bị cháy - chiếc ghế ông vẫn dùng ngồi ăn cơm ngày hai lượt. Trong nhập nhoạng, mắt ông tìm đến chiếc đờn bầu đặt nằm dưới gầm bàn thờ. Lệ  thường , giờ  này của những

đêm trước, ông đã đưa nó ra khỏi vòng tay của chu nó; ông đã ngồi bên cạnh nó, vuốt ve âu yếm nó, rồi sau đó ông sẽ lấy ngón tay khô đét  bật  phèng  phèng  vào sợi dây duy nhất của nó. Bằng khuôn mặt của một người đang nhập thiền , ông lắng nghe trong cái âm thanh đơn điệu ấy tất cả những ngọt ngào, sâu lắng đã từng ngân lên từ đôi bàn tay của thằng Đăng Hà Tây, tụi xê mười nằm vùng hồi những năm sáu lăm, sáu sáu. Chao ôi, cái bản đờn Vì miền Nam của nó nghe sao mà day dứt, mà thấm thiá. Ông xót xa, ngậm ngùi nhớ lại cái đêm xa xôi đầy bi thương ấy. Lần đó, tụi thằng Đăng ra đi, gửi lại cây đờn bầu cho ông. Khi trở về, cả tổ bám trụ chỉ còn là mấy cái xác trôi vật vờ ngoài kênh. Chính mấy thằng giải phóng này đã xông vào đám cháy cứu ông thoát chết lần trước. Nước mắt giàn giụa của ông nhòa vào đồng không mông quạnh và đêm tối. Lặng lẽ như cái bóng, một mình ông đã vớt và đưa những thi hài liệt sĩ về nhà mình. Rồi chính tay ông đào ngay cái nền nhà, chỗ dưới bàn thờ và chôn cất những liệt sĩ hi sinh ở đó.

Ông Tám Bê cứ mường tượng như chính mình là người có lỗi khi nghĩ rằng vì mảnh đất này, trong đó có cái miếng đất nền nhà của ông mà những người lính ấy đã biền biệt xa nhà, đã mãi mãi ra đi không còn trở lại. cả đại đội nằm vùng bám trụ ấy lần lượt hi sinh không còn sót lấy một người. Thôi thế cũng là kết thúc những trang đời oanh liệt. Cầu cho tụi nó được mồ yên mả đẹp trên mảnh đất này ! Có ngờ đâu !...

Ông Tám Bê bàng hoàng với tay nhấc cây đờn ra, nâng nó lên, đặt ngay ngắn trên mặt bàn thờ, miệng run run khấn :

- Ôi hồn thiêng mấy đứa bây, hãy về trong tiếng đờn này, về mách bảo giùm tao có cách chi thoát khỏi cảnh đời éo le, để tao lo tròn bổn phận của tao đối với phần xác của mấy đứa !

              ...Tiếng độc huyền từ đôi tay già nua và vụng về, khoan nhặt rơi vào đêm sâu tịch mịch. Ông Tám Bê ngồi bật bông trong một tư thế gập ngưới, tuồng như muốn ôm lấy cả mảng nền đất trước mặt, chỉ còn một chút lưng là dựa dính vào cây cột nhà gỗ sao đen sém. Ông chờ đợi sự linh nghiệm của lời khẩn cầu trong âm thanh phèng phèng đơn điệu - cái âm thanh mà lúc nào bật lên, ông cũng nghe nó ngân nga, dìu dặt đến não lòng. Bởi ông tin những lúc đó, từ dưới lòng đất của ngôi nhà này, chính thằng Đăng Hà Tây đã với bàn tay mềm mại của nó lẩy vào sợi dây kì diệu. Kí ức đời ông bỗng chốc lại hiện về ăm ắp trong tiếng độc huyền...

...Đó là một ngày mùa khô. Sáng chưa bảnh mắt, tụi ác ôn và lính càn quét đã xộc vào nhà, hất ông Tám Bê ra khỏi giường bằng lưỡi lê. Chúng trói ông, dong ông đi khắp rừng tràm, bắt chỉ điểm căn cứ của tụi giải phóng. Ông khảng khái nói vào mặt thằng đại úy ác ôn : “ Tao được Cách mạng cấp cho miếng đất, cả đời lo mần ăn trên miếng đất đó, có bước cẳng đi đâu mà biết giải phóng với giải phiếc ! “. Chiều về, chính tay thằng đại úy trói ông vào cây cột nhà gỗ sao : “ Cho thằng già này chết thiêu với cái tấm lòng cô trung của nó ! “. Trước khi rút quân, cũng chính tay thằng đại úy châm lửa đốt nhà.

Ngôi nhà của ông Tám Bê lại ngùn ngụt cháy. Giữa đám lửa đang phừng phực bốc cao, ông không hề nghĩ đến cái chết thê thảm sắp ập tới. Mắt ông trừng trừng mở to, chứng kiến những lưỡi lửa hung hãn đang táp vào mái lá rào rào. Lửa bắt đầu rơi xuống người và bén vào quần áo. Những ngọn lửa man rợ táp vào mặt, làm da thịt ông nóng bỏng như muốn nứt ra.  Chính lúc đó,  tai  ông  nghe  rộ  lên tiếng súng xen trong tiếng tre nổ lốp đốp. Đôi tròng mắt nóng rực của ông bỗng nhìn thấy hai bóng áo xanh lao vào đám lửa. Họ dùng dao găm cắt dây trói và nâng cơ thể ông trên tay, luồn ra. Rồi họ đặt ông lên một chiếc võng và chạy vút đi. Từ lúc đó, ông rơi vào trạng thái hôn mê...

Hơn hai tháng sau, ông Tám Bê theo một tổ bám trụ, từ quân y viện ở khu giải phóng trở về nhà mình. Trong ánh trăng suông, ngôi nhà thân yêu của ông bây giờ chỉ còn lại cây cột gỗ sao đen đúa, lừng lững vươn lên khoảng trời đêm như một cây cột thép.

Ông Tám Bê bắt đầu tạo dựng lại cơ ngơi từ cây cột nhà gỗ sao định mệnh đó. Và, một ngôi nhà mới lại mọc lên. Thực ra, đó chỉ là một túp lều - cái túp lều đã gắn bó với cuộc đời ông, đã che chở cho số kiếp của ông từ gần hai chục năm nay. Cái túp lều mà theo ông, nó còn qúi báu gấp vạn lần những tòa lâu đài đang thi nhau mọc lên đây đó. Cái túp lều ấy chính là một phần đời của ông, là nơi kí thác tâm tư và ước vọng của ông, là chốn nương náu của hơi thở người đang sống và của linh hồn người đã chết. Đôi ba lần, ông có nghe người ta nói đến những nhà truyền thống này, những nghiã trang liệt sĩ nọ, và ông nghĩ rằng cái túp lều của ông có sẵn những thứ đó. Đây chính là thiên đường của riêng ông...

Vậy mà...

Một tiếng gà le te phía ấp xa. Gió đã tắt ngoài rừng tràm. Thời gian đã nghiêng về phiá ban ngày. Không gian đã bàng bạc một thứ ánh sáng mờ ảo, huyền hoặc. Ông Tám Bê thôi không gảy đờn, bởi tiếng đờn lúc này nghe u uất quá, nghẹn đắng quá !

Ông chạnh lòng nghĩ đến bao bất công dường như mỗi ngày một sinh nở ra trên mảnh đất này. Lòng tin của ông vốn bị xói mòn lại thêm phần thương tổn. Ông không muốn vậy mà sao đời bắt ông phải vậy. Đã gần mười năm giải phóng rồi...

Họ, những người mà một thời ông thương yêu và kính trọng, chở che và đùm bọc, gửi gắm và tin tưởng; giờ đây, dường như là những con người nào khác, thật xa lạ và cách bức, thật ồn ào và lặng lẽ, thật khó hiểu và đáng sợ...Rồi một nỗi đau quặn thắt, như đang bóp vụn trái tim già nua, đột ngột trào dậy, khiến ông run rẩy đứng lên, vịn tay vào cây cột nhà gỗ sao, loạng choạng lần từng bước tìm đến chiếc giường tre ọp ẹp - cái nỗi đau từ một ý nghĩ : “ Nếu như những con người đang nằm dưới đất này, những người mà ông đã đem cả cuộc đời mình ra để đắp điếm, bảo vệ, vẫn đang còn sống đến bây giờ, họ sẽ làm gì khác hơn ? Họ có là những ông thương binh xã hội, những vị chủ tịch, những ngài bí thư...hôm nay mà ông thường phải gặp ? “.

Mắt ông Tám Bê lại tìm về với cái lỗ thủng nhà ông. Nhưng lạ thay, lần này ông không nhìn thấy gì ở đó, trong khi tai ông nghe vang lên hỗn tạp một thứ âm thanh của những giọng nói đan chéo vào nhau :

...- Thưa bác, việc bác đề nghị là vô cùng chính đáng, nhưng hiện tại tỉnh nhà chúng ta chưa xây cất xong nghiã trang liệt sĩ, nên phải chờ thôi bác ạ ! Khi nào...

- Ông nói là ông đã tự mình chôn cất liệt sĩ xuống ngay nền nhà mình, vậy việc ấy có ai chứng giám ? Ông không giữ chút giấy tờ gì của họ à ? Vậy biết đâu, những bộ xương ấy là của  những thằng lính ngụy ! Sao ? Chiếc đờn bầu à ? Chiếc đờn bầu thì có nghiã lí gì lúc này ?...

- Ừ, cũng lạ thiệt ! Sao mấy cha bây giờ lại xử tệ với ông Tám Bê đến thế ? Bộ mấy chả quên hết trọi rồi sao ?

- Chúng tôi mời bác lên đây để thông báo với bác một việc : Bác là một người kinh qua kháng chiến, chắc hiểu : chúng ta phải xây dựng quê hương giàu mạnh, cần phát triển kinh tế toàn diện để bù lại những năm chiến tranh. Vì thế, khu đất nhà bác, chúng tôi đã có kế hoạch xây dựng một cơ sở chăn nuôi liên hợp. Tại nền nhà của bác, sẽ mọc lên một dãy chuồng trại nuôi một giống heo lai tạo, cho năng suất rất cao. Vậy báo để bác sắp xếp dời nhà sang nơi ở mới. Chúng tôi sẽ bù những khoản thiệt hại cho bác. Mong bác thông cảm...

- Nè, xin nói để ông biết : ông đừng loanh quanh, vòng vo hoài; ông đừng vin vào sự thiêng liêng của phong tục, lễ giáo mà bày đặt ra chuyện dưới nền nhà ông có mộ kiệt sĩ.. Không có liệt sĩ liệt tốt gì ráo ! Ông có dời nhà không thì bảo ?

- ...Mà ông Tám cũng chịu dời đi chứ có phải không đâu. Ổng chỉ cần người ta lo mồ mả cho mấy ông giải phóng yên ổn, rồi ổng có đi cùng trời cuối đất cũng chịu mà !...

...Những âm thanh hỗn tạp ấy cứ kéo dài, miết vào nhau theo một luồng xuyên thẳng, từ đỉnh trời, qua cái lỗ thủng nóc nhà, xoáy vào tim ông. Người ta đã cố tình quên ông, một số phận đơn côi nhưng một thời gắn bó máu thịt với hai cuộc kháng chiến. Chao ôi, có biết bao điều thiêng liêng, cao cả vẫn còn tiềm ẩn trong im lặng của thời gian...Lẽ ra, không phải chỉ đối với mấy thi hài liệt sĩ mà ngay đối với bản thân ông, ông cũng cần có sự đền đáp ơn nghiã...Nhưng người ta không hiểu ông. Ở cái thời buổi này, đôi khi việc nhìn nhận lại sự thật sao mà khó khăn quá ! Vì thế, ông lại sống đơn côi và chờ đợi đã gần mười năm nay... Nhưng đến cỡ này thì họ dồn ông vào ngõ cụt. Ông bí thế, buộc phải tìm một lối thoát...

Một hành động bột phát, gần như vô thức, nhưng mạnh mẽ và kiên quyết : ông Tám Bê đột ngột vùng dậy, chân bước những bước dài về phiá bàn thờ, đôi bàn tay thoăn thoắt tháo sợi dây độc nhất nơi chiếc đờn bầu, rồi sau đó, ông dùng chính sợi dây thép mỏng manh ấy, tự trói đứng mình vào cây cột gỗ sao. Ông Tám Bê xiết chặt hai vòng dây quanh người mình bằng cái sức mạnh dồn nén của bảy mươi năm cày sâu cuốc bẩm, phát ra từ đôi tay gầy guộc , xương xẩu.

“ Đó, hãy thiêu sống tao cùng với cái nhà này đi, rồi muốn làm chi thì làm ! Tao thà chết đi còn hơn phải sống mà ngó cái cảnh nắm xương anh hùng bị vùi trong cứt heo, bã cám ! “.

Khi hai bàn tay như hai gọng kìm đã xiết hết cỡ sợi dây thép và gà đã gáy rộ lên lần cuối cùng, ông Tám Bê cảm thấy phía sau lưng mình, mặt trời đang nhô dần lên trên đỉnh rừng tràm...

 

                                                                       12 - 1988

                                                                                                      

 
     
  Thai Sắc ( Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp)  
  Về đầu trang 

Ý kiến bạn đọc
 Gửi ý kiến 

Cùng tác giả
 


Các bản tin Khác

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  >> 
 Bài mới cập nhật




  • Phụng! (09/12/2019)

  • NỒI LÁ XÔNG … (09/12/2019)

  • LỜI PHÊ (09/12/2019)















  •  Shop văn nghệ

     Nỗi nhớ thời gian (27/10/2014)  


     Người cận vệ- (12/08/2014)  


     Tuyển tập kịch ngắn (20/03/2014)  


     Hoa dồng (20/03/2014)  


     
     Tìm tác giả
     
     
         
     



     
     
       
       
         
    Hội thành viên
         
     
    Đăng ký nhận bản tin
      
     
     

     
    Múa |  Điện ảnh |  Văn nghệ thiếu nhi |  Văn nghệ trẻ |  Quê hương-Đất nước-Con người |  Văn nghệ nước ngoài |  Tác giả-Tác phẩm |  Bạn đọc |  Vui-Phê bình |  Shop văn nghệ |